Thứ Năm, 20/02/2025

Văn học Sanskrit Phật giáo (10) - Hệ thống kinh Tịnh độ

Loạt bài Văn học Sanskrit Phật giáo nhằm giới thiệu về điển tịch Phật giáo Ấn Độ hệ Phạn ngữ. Đây là giáo trình được biên soạn giảng dạy cho học phần Văn học Sanskrit Phật giáo của SC. Thích nữ Thanh Trì.

BÀI X. HỆ THỐNG KINH TỊNH ĐỘ

 

1. khái quan

 

Tịnh độ trong Phật giáo có thể thấy qua hai nhóm, đó là Tịnh độ của đức Phật A-súc (Akṣobhya) và Tịnh độ của đức Phật A-di-đà (amitābha / amitāyus), cả hai loại tịnh độ này đều được thành lập từ bổn nguyện của đức Phật của cõi ấy.

Tịnh Độ của các đức Phật này lần đầu tiên được nói đến là trong Phật giáo đại thừa, nhưng trước Phật giáo đại thừa cũng có thể thấy nhiều mô tả có yếu tố tương tợ với tư tưởng tịnh độ này. Đó là vương thành của Chuyển Luân Thánh Vương (Cakravartin), Bắc Câu-lô châu (Uttarakuru), Phạm Thiên giới (Brahmaloka)… Tuy nhiên, ở đấy không có một điều căn bản, đó là việc hướng đến giác ngộ bồ-đề. Còn nơi tịnh độ của  đức Phật A-di-đà và đức Phật A-súc thì có vô số bồ-tát, thanh văn, có thể diện kiến đức Phật, nghe thuyết pháp, có thể thấy hình tướng vốn có của tín đồ Phật giáo đang tu hành hướng đến đạo bồ-đề. Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa tịnh độ và cảnh giới gần giống tịnh độ.

 

Sau khi đức Thích Tôn diệt độ, thời đại không có Phật, có lẽ đã có nhiều người lo lắng liệu có thể chứng ngộ nơi thế giới khổ não nhiều như ở cõi Ta-bà này. Và với ước mong được gặp Phật, được sống trong cảnh giới có Phật. Tư tưởng tịnh độ của Phật A-di-đà và Phật A-súc đã xuất hiện trong bối cảnh thời đại như thế. Nên như trường hợp của đức Phật A-di-đà, vị bồ-tát Pháp Tạng đã phát nguyện “nếu tôi thành Phật thì tôi sẽ kiến tạo ra Phật quốc độ mà những chúng sanh sanh vào Phật quốc độ ấy của tôi sẽ tu hành dễ dàng”, phát nguyện như thế trong quá khứ, rồi trải qua thời gian dài tu hành lục ba-la-mật, và kết quả là thành Phật A-di-đà. Như thế, cực lạc tịnh độ ấy được kiến tạo từ thệ nguyện của ngài.

Như trên, có thể hiểu tư tưởng tịnh độ được thành lập với ba yếu tố trọng tâm là (1) đức Phật, (2) bổn nguyện của Phật, (3) thế giới tịnh độ.

 

Tín ngưỡng Di-đà không có trong Kinh Bát-nhã như tịnh độ A-súc, có trong Kinh Pháp Hoa. Trong Kinh Hoa nghiêm thì tín ngưỡng tịnh độ Di-đà không có trong Phổ hiền hạnh nguyện của Hoa nghiêm 60 quyển, nhưng có trong Hoa nghiêm 80 quyển, Hoa nghiêm 40 quyển và bản Sanskrit Gaṇḍhavyūha. (cf. Nakamura Hajime tuyển tập 21,中村元「大乗仏教の思想」).

 

2. Tịnh Độ Của Đức Phật A-Súc

 

Tịnh độ được mô tả trong Kinh A-súc Phật quốc là thế giới Diệu Hỷ (Abhirati), phương Đông của thế giới Ta-bà, so với thế giới Ta-bà thì ở đấy có hoàn cảnh dễ tu hành hơn. Những hoàn cảnh dễ tu này là do thệ nguyện mà đức A-súc Phật đã lập ra khi ngài còn tu hành. Muốn sanh về thế giới của đức Phật A-súc thì phải hành bồ-tát nơi đời này, tu hành như đức Phật A-súc đã tu.

Kinh bắt đầu bằng việc Xá-lợi-phất hỏi đức Phật về sự phát tâm, sự tu hành của bồ-tát trong quá khứ và những đặc trưng của việc ấy, nên đức Thích-ca đã kể câu chuyện của đức Phật A-súc.

Chương thứ nhất nói đến những sự việc từ khi phát tâm đến thành chánh giác của Phật A-Súc, đặc biệt nói chi tiết về thệ nguyện của đức Phật A-súc. Vốn là một vị tỳ-kheo sống ở thế giới Diệu Hỷ của đức Như lai Quảng Mục, nghe đức Như lai thuyết pháp về 6 ba-la-mật mà cảm tâm phát nguyện tu hành đến đắc quả vô thượng bồ-đề.

Từ chương thứ hai đến chương thứ tư là nói đến việc sau khi đức A-súc thành đạo, với thệ nguyện ấy của ngài, thế giới Diệu Hỷ đã được trang nghiêm như thế nào. Chương thứ hai nói đến sự hoàn hảo về tự nhiên và cuộc sống của con người ở thế giới Diệu Hỷ, chương thứ ba nói về đặc trưng tu hành của thanh văn thừa, chương thứ tư là đặc trưng tu hành của bồ-tát thừa.

Chương thứ năm là nói về khi lâm chung của đức Phật A-súc, việc thọ ký cho người hậu kế là Bồ-tát Hương Tượng (Gandhahastin), những sự kỳ diệu khi Phật A-súc niết-bàn, việc kiến lập bảo tháp thờ Phật và thế giới Diệu Hỷ sau khi đức A-súc niết-bàn.

Chương thứ sáu là nói về phương pháp tái sinh đến thế giới Diệu Hỷ ấy, là phải tu hành pháp Ba-la-mật như đức bồ-tát A-súc đã tu và phát nguyện sanh về cõi ấy. Bản dịch của Chi-lâu-ca-sấm chỉ có 5 chương và phần này là một phần của chương 5.

 

Mô-típ câu chuyện của đức Phật A-súc khi còn tu hành bồ-tát được mô tả gần giống như câu chuyện đức Thích-Ca từ khi được đức Nhiên Đăng thọ ký trong quá khứ. Chuyện đức Phật A-súc và thế giới Diệu Hỷ cũng được xuất hiện trong các kinh điển đại thừa quan trọng như Kinh Bát-nhã Tiểu Phẩm, Kinh Duy-ma, Kinh Pháp Hoa, Kinh Bi Hoa, Kinh Đại Bát-niết-bàn, …

 

Tài Liệu:

Nguyên điển Sanskrit chưa được phát hiện nhưng có tả bản tiếng Gandhāra viết bằng chữ Kharoṣṭhī, có nội dung tương tợ với kinh này.

Hán dịch truyền có ba bản nhưng hiện còn hai bản trong bộ Bảo Tích, đó là: (1) A-Súc Phật Quốc Kinh阿閦佛國經T313.vol.11 do Chi-lâu-ca-sấm支婁迦讖 dịch (tk thứ 2), (2) và cùng nội dung có Hội Bất Động Như Lai thuộc Kinh Bảo Tích hội thứ 6大宝積経不動如来会, T310.vol.11 do Bồ-đề-lưu-chí 菩提流志dịch (572?-727).

 

Tibet dịch có hai chủng loại trong Đại tạng kinh và ngoài đại tạng kinh. Riêng trong đại tạng kinh, kinh này có 5 loại tả bản và 7 loại mộc bản ấn loát. Tên gọi ấy trong bộ Bảo Tích (dkon brtsegs) là, 'phags pa de bzhin gshegs pa mi ‘khrugs pa’i bkod pa zhes bya ba theg ba chen po’i mdo / P. 760-(6).

Từ ghi chép của tạng Tibet, chuyên gia cho rằng tên đề Sanskrit của kinh là Akṣobhyatathāgatasya [buddhakṣetra-] vyūha.

 

 

3. Tịnh Độ Của Đức Phật A-Di-Đà

 

theo truyền thống các nước Đông Á, có ba bộ kinh cho các tông phái thuộc tín ngưỡng Tịnh độ này y cứ, gọi là Tịnh độ tam bộ kinh. Đó là (1) Kinh Vô lượng thọ, (2) kinh Di-đà, và (3) kinh Quán vô lượng thọ.

 

 

3.1. Kinh Vô lượng thọ

 

Sukhāvatīvyūha tiếng Phạn có nghĩa là “trang nghiêm [thế giới] cực lạc”. trong ba bộ kinh thuộc tịnh độ giáo, kinh này nói rõ cảnh giới tịnh độ nhất, chủ đề “Vô Lượng Thọ” là nói đến bổn nguyện của đức phật A-di-đà.

Xưa, Pháp Tạng bồ-tát (Dharmākara) nơi chỗ của đức Như Lai Thế Tự Tại Vương (Lokeśvararāja) thệ nguyện thành tựu chánh giác để cứu độ tất cả chúng sanh. Và khi đã giác ngộ chứng thành quả Phật rồi đã phải mất 5 kiếp suy nghĩ kiến tạo quốc độ của mình như thế nào để chúng sanh ở đó tu hành dễ giác ngộ. Kết quả là đưa ra 48 hạng mục rằng muốn kiến tạo quốc độ như thế như thế, 48 điều ấy về sau được gọi là 48 nguyện.

Kinh nói rằng sau đó vị bồ-tát ấy tu hành lục ba-la-mật, rồi giác ngộ thành Phật, kể đã phải trải qua 10 kiếp. Sau khi thành Phật, vì đã hoàn thành đầy đủ 48 hạnh nguyện nên đã có được quốc độ tương ứng. Phần sau của kinh mô tả các sự việc được hiện thật hoá nơi Phật quốc độ ấy. Đây là đại khái nội dung kinh Vô Lượng Thọ.

 

Tài liệu:

Kinh Vô lượng thọ (Larger Sukhāvatīvyūha) , còn gọi là đại kinh. Hiện còn đầy đủ Hán dịch, Tibet và Sanskrit. Nhóm Sanskrit hiện có mấy loại, trong đó bản Roman hoá được hiệu đính và nghiên cứu kỹ từ 34 bản thủ bản đã được xuất bản, được khuyên dùng là: Fujita Kotatsu 2011藤田宏達『梵文無量寿経・梵文阿弥陀経』(The Larger and Smaller Sukhavativyuha Sutras  Edited With Introductory Remarks and Word Indexes to the Two Sutras)法蔵館2011.

 

Hán dịch có đến 5 bản, nội dung chi tiết ít nhiều có khác nhau nhưng tổng quan tư tưởng thì tương đồng. Đó là:

(1) 阿彌陀三耶三佛薩樓佛檀過度人道經 T362, vol. 12,  支謙 (223–253) dịch, 2 quyển, (thường được gọi là Đại A-di-đà kinh);

(2) 無量淸淨平等覺經T361, vol. 12, 支婁迦讖 (tk thứ 2) dịch, 2 quyển (thường được gọi là Bình Đẳng Giác Kinh);

(3) 大無量壽經, 康僧鎧 (-252-) dịch T360, vol. 12, 2 quyển;

(4) 大宝積経無量寿如来会thứ 5, T310,vol. 12, 菩提流志 (572?-727) dịch, 2 quyển;

(5) 大乘無量壽莊嚴經 T363, vol. 12, 法賢 (?–1001) dịch, 3 quyển.

Tibet: ‘Phags pa ‘od dpag med kyi bkod pa zhes bya ba theg pa chen po’i mdo / P. no. 760-5.

 

 

3.2. Kinh A-di-đà

 

Tiêu đề của kinh trong Sanskrit giống với Kinh Vô Lượng Thọ, để phân biệt, thường gọi Kinh Vô Lượng Thọ là “Larger Sukhāvatīvyūha”, Kinh A-di-đà là “Smaller Sukhāvatīvyūha”. Kinh A-di-đà nói rõ đơn giản về dạng tướng hiện thực hoá từ hạnh nguyện của Phật A-di-đà đã được nói trong Kinh Vô Lượng Thọ.

Đức Phật nói với ngài Xá-lợi-phất, phương Tây của thế giới này, có thế giới cực lạc, gồm 10 vạn ức độ, có đức Phật A-di-đà ở đó đang thuyết pháp. Rồi nói về thế giới ấy hy hữu, thọ mạng và quang minh của đức Phật A-di-đà là vô lượng, khuyến khích sanh về thế giới cực lạc. Và khuyên tin bằng cách nói rằng chư Phật ở các cõi nước Đông Tây Nam Bắc Thượng Hạ đều “khen quốc độ cực lạc của phật A-di-đà, hãy tin kinh này đi”.

 

Tài liệu:

Thủ bản Sanskrit của kinh này có mấy loại, trong đó ấn bản được học giới thường dùng là:

Sukhāvātīvyūha, Description of Sukhāvatī, the Land of Bliss, ed. by F. Max Muller and Nanjo, Oxford, 1883.

Hán dịch có 2 loại:

(1) 仏説阿弥陀経,鳩摩羅什dịch T366

(2) 称賛浄土佛摂受経,玄奘 dịch T367

Tibet dịch: 'phags pa bde ba can gyi bkod pa zhes bya ba theg pa chen po'i mdo / P.no. 783

Ngoài ra còn có bản dịch tiếng Uyghur, tiếng Tây Hạ.

 

 

3.3. Kinh Quán Vô Lượng Thọ

 

Kinh lấy hình thức thuyết pháp cho vương kỷ Vi-đề-hy đang bị nhốt trong vương cung. Câu chuyện bắt đầu là thái tử A-xà-thế bị bạn xấu xúi dục, với ý đồ sát hại phụ vương để kế thừa vương vị nên đã giam nhốt phụ vương trong ngục. Và cũng giam luôn mẫu hậu vì bà đã đem thức ăn cho nhà vua.

Vương kỷ sầu não về việc nhà vua bị giam nên cầu Phật nói cho biết có chỗ nào không khổ não hay không. Đức Thích Tôn đã giới thiệu tịnh độ cực lạc của đức Phật A-di-đà. Với những ai nhất tâm quán tưởng 13 điều thì sẽ vãng sanh tịnh độ. 13 điều ấy đại khái như sau:

(1) Hướng về phương tây nhìn mặt trời lặn, dù nhắm mắt cũng hình dung ra trạng thái mặt trời lặn ấy. (2) Quán sự trong sạch của nước, tâm không tán loạn, nhìn thấy sự trong vắt của nước mà quán tưởng trạng thái lưu ly. (3) Quán tưởng đại địa lưu ly được trang sức bằng tràng phan thất bảo. (4) Quán tưởng cây cối có trang sức bảo thạch ở tịnh độ. (5) Quán tưởng 8 hồ nước của tịnh độ có 60 ức hoa sen thất bảo. (6) Quán tưởng lâu các của tịnh độ được làm thành từ 500 ức bảo thạch. (7) Quán tưởng đài sen có đức Phật ngồi trên. (8) Quán tưởng lễ bái đức Phật A-di-đà, bồ-tát Quán Âm, bồ-tát Thế Chí. (9) Quán tưởng thân thể chân thật của đức phật A-di-đà. (10) Quán tưởng thân thể chân thật của bồ-tát Quan Âm hầu bên phật A-di-đà. (11) Quán tưởng thân thể chân thật của bồ-tát Thế Chí. (12) Quán thấy mình vãng sanh, sinh ra trên hoa sen. (13) Nếu thân thể chân thật của đức phật A-di-đà lớn quá mà không nhìn thấy được thì quán phật cao một trượng sáu (khoảng 5 mét). Thân thể của Quan Âm, Thế Chí cũng quán như vậy.

Và liên hoa được chia thành 9 phẩm, người vãng sanh sinh ra trong hoa sen tuỳ sức nhiếp tâm và phước hành mà vãng sanh theo thứ tự từ cao đến thấp.

 

tài liệu:

Chỉ có 1 bản Hán dịch, 佛説觀無量壽佛經T365 Vol. 12, 畺良耶舍Kalayaśas (- 424 -) dịch.

Ngoài ra còn có bản dịch tiếng Uyghur, nhưng được xác định là dịch lại từ chữ Hán.

 

Theo các chuyên gia, có thể hiểu sự triển khai hệ thống tư tưởng tịnh độ của đức Phật A-di-đà qua ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là tín ngưỡng về đức Phật A-di-đà (Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh A-di-đà), giai đoạn thứ hai là sự kết hợp tín ngưỡng Phật A-di-đà và tư tưởng không cùng với thực tiễn tam-muội (Kinh Bát-chu Tam-muội), giai đoạn thứ ba là sự tổng hợp của tư tưởng tịnh độ (Kinh Quán Vô Lượng Thọ).

 

 

4. Kinh điển gần nội dung

 

4.1. Kinh Bát-chu tam-muội

(般舟三昧經 *Pratyutpanna-buddha-saṃmukhāvasthita-samādhisūtra: Kinh nói về Tam-muội an trụ hiện tiền [chư] Phật)

Kinh gồm có 16 phẩm, theo kết quả nghiên cứu hiện nay, phẩm thứ hai, tức phẩm Hành là hình thái ban đầu của kinh. Trong phẩm Hành này, hai yếu tố là tín ngưỡng tha phương Phật (Phật A-di-đà) và Bát-nhã - không đều cùng được giới thiệu. Điều này được hiểu rằng: kinh này có vị trí là chiếc cầu nối của tư tưởng bát-nhã - không và tín ngưỡng Phật A-di-đà.

Phẩm Hành nói đến việc thấy Phật A-di-đà nhờ niệm Phật, là nội dung có thể tìm được trong bản dịch cổ của Kinh Vô Lượng Thọ, vì Kinh Vô Lượng Thọ là kinh đại biểu cho nguyên thuỷ đại thừa, nên Kinh Bát-chu Tam-muội này có liên quan đến tín ngưỡng Phật A-di-đà nguyên thuỷ.

Ở đây cần lưu ý một điều: Bát-chu tam-muội có nghĩa là tam-muội mười phương chư Phật hiện tiền, chứ không chỉ có đức Phật A-di-đà. Sự thật thì các phẩm từ phẩm Tứ Sự thứ ba trở đi (các phẩm được xem là về sau mới được thành lập) hầu như không đề cập đến Phật A-di-đà nữa. Từ điều này có ý kiến cho rằng Bát-chu tam-muội là pháp hành kiến Phật nhờ niệm Phật được phát triển trong tín ngưỡng A-di-đà, pháp hành ấy được trở nên phổ biến hơn nhờ tư tưởng bát-nhã - không. Chính vì được phổ biến hơn nên không chỉ có đức Phật A-di-đà mà chư Phật đều hiện tiền. Do sự phổ biến ấy mà về sau từ phẩm Tứ Sự trở đi không còn đề cập đến tín ngưỡng A-di-đà nữa. Ý kiến này gián tiếp nói lên rằng tín ngưỡng A-di-đà là nguyên thuỷ của Phật giáo đại thừa.

 

Tài liệu:

Về Sanskrit, hiện chỉ còn đoạn phiến, không có bản đầy đủ. Nhưng có đến bốn bản Hán dịch và một bản Tibet dịch, cụ thể như sau:

T 419, 拔陂菩薩經, 1 quyển, không rõ người dịch, được cho là bản dịch sớm nhất.

T 417, 般舟三昧經dịch bởi Lokakṣema支婁迦讖 (đời Hán), 1 quyển.

T 418, 般舟三昧經dịch bởi Lokakṣema 支婁迦讖, gồm có 3 quyển.

T 416, 大方等大集經賢護分, dịch bởi Jñānagupta 闍那崛多 trong khoảng năm 594-595.

 

Tibet: P. no. 801. Bản Tibet này đã được nghiên cứu, hiệu đính và san hành: P. M. Harrison, The Tibetan Text of the Pratyutpanna-buddha-saṃmukhāvasthita-samādhi-sūtra, The Reiyūkai Library, 1978.

Bản hiệu đính này cũng là cơ sở của bản dịch Anh ngữ sau:

Harrison, Paul. 1990. The Samādhi of Direct Encounter with the Buddhas of the Present: An Annotated English Translation of the Tibetan Version of the Pratyutpanna-Buddha-Saṃmukhāvasthita-Samādhi-Sūtra with Several Appendices Relating to the History of the Text. Tokyo: The International Institute for Buddhist Studies. Studia philologica Buddhica. Monographs series. 5.

 

 

4.2. Kinh Bi Hoa (Karuṇāpuṇḍarīkasūtra)

 

Khác với các đức Phật A-di-đà, Phật A-súc giác ngộ ở tịnh độ, Kinh Bi Hoa có chủ đề xưng tán lòng đại bi của đức Thích-ca vì cứu độ chúng sanh đang khổ não ở thế giới ta-bà uế độ này mà tu hành giác ngộ ở đây. Nên kinh có tiêu đề là “Từ Bi Như Hoa Sen Trắng”.

Ngày xưa, dưới vương triều vua tên Vô Tránh Niệm (Araṇemin) có vị đại thần tên Bảo Hải (Samudrareṇu), người con của vị đại thần đó sau khi đã tu hành giác ngộ thành Phật tên là Bảo Tạng (Ratnagarbha) rồi thì hướng tâm giác ngộ cho vua và các vương tử. Khi đó vua Vô Tránh Niệm khởi thệ nguyện muốn thành Phật ở tịnh độ, nên Bảo Tạng Như Lai thọ ký cho vua trong tương lai sẽ thành Phật Vô Lượng Thọ (A-di-đà), các vị vương tử cũng được thọ ký sẽ thành Quan Âm, Phổ Hiền, A-súc v.v...

Tiếp theo, 80 người con của vị đại thần cũng hướng tâm bồ-đề, nhưng không phải tịnh độ mà muốn giác ngộ nơi uế độ, họ chọn lựa nơi cõi uế độ nhưng vào thời ít phiền não nhất. Khi đó người cha, vị đại thần liền phát nguyện thành Phật nơi uế độ vào thời đại đầy dẫy những phiền não, muốn cứu chúng sanh đau khổ phiền não ấy, lập ra 500 đại nguyện. Sau khi nghe xong, Bảo Tạng Như Lai tán thán ông, gọi là vị bồ-tát như hoa sen trắng, bồ-tát đại bi, dự ngôn rằng nơi thế giới ta-bà sẽ thành Phật hiệu là Thích-Ca Như lai.

Kinh Bi Hoa là kinh điển nhấn mạnh lòng đại bi của đức Thích Ca Như Lai thành Phật nơi uế độ ta bà này. Cùng hệ tư tưởng với hệ thống kinh điển tịnh độ, cụ thể là tư tưởng bổn nguyện của Phật.

 

 

Tài liệu:

Nguyên điển Sanskrit có 2 loại đã được san hành:

(1) Karuṇāpuṇḍarīkam, ed. by Satyavrata Sāmaśramī, Ś. C. Dās and Ś. C. Śāstri.  Calcutta, 1898. 

(2) Karuṇāpuṇḍarīka, edited with introduction and notes by Isshi Yamada ; v. 1, v. 2. -- School of Oriental and African Studies, University of London, 1968. (Manuscript: https://rmda.kulib.kyoto-u.ac.jp/en/item/rb00032084?page=2)

 

Tài liệu Hán dịch có hai:

(1) 悲華經 (No. 0157 曇無讖譯 ) in Vol. 03

(2) 大乘悲分陀利經 (No. 0158 không rõ người dịch) in Vol. 03

 

Tibet:

P. no. 780.

 

Ngoài ra còn có nhiều thủ bản, có bản đoạn phiến dịch ngữ Tochara tương đương nội dung kinh này. Thông tin tài liệu đầy đủ có thể tham khảo từ nghiên cứu của Iwagami Kazunori: 石上和敬. (2009). 「Karuṇāpuṇḍarīka の梵蔵漢資料」『武蔵野大学仏教文化研究所紀要』, (25), 1-42; 石上和敬. (2014). < 悲華経> の梵蔵漢資料 補遺. 武蔵野大学仏教文化研究所紀要, (30), 1-21.

 

 

 

Tham Khảo:

·     『シリーズ大乗仏教5:仏と浄土 大乗仏典II』春秋社2013.

·     大乗経典解説事典

·     大蔵経全解説大事典

 

Bài viết cùng chuyên mục
Mục lục