Thứ Hai, 05/10/2026

Văn học Sanskrit Phật giáo (8) - Hệ thống kinh Niết-bàn

Loạt bài Văn học Sanskrit Phật giáo nhằm giới thiệu về điển tịch Phật giáo Ấn Độ hệ Phạn ngữ. Đây là giáo trình được biên soạn giảng dạy cho học phần Văn học Sanskrit Phật giáo của SC. Thích nữ Thanh Trì.

BÀI VIII. HỆ THỐNG KINH NIẾT-BÀN

 

1. Khái quan

Bài này giới thiệu những kinh điển có chủ đề Niết-bàn với ý nghĩa Thích Tôn nhập diệt, đại biểu là Kinh Đại Thừa Niết-Bàn và những kinh điển đại thừa liên quan mật thiết với kinh này. Bên cạnh đó cũng giới thiệu những kinh điển liên quan đến chủ đề Phật diệt, tức chánh pháp diệt, bởi vì hai chủ đề này có tính chất gần nhau.

Niết-bàn trong Sanskrit là nirvāṇa, là từ ngữ vốn có trước khi Phật giáo thành lập. Trong Phật giáo, Niết-bàn có hai nghĩa: (1) là cảnh giới lý tưởng mà ở đó đã không còn phiền não; (2) là sự nhập diệt của đức Phật. Hai ý nghĩa này có mối tương quan mật thiết với nhau nhưng chính nghĩa thứ hai là ý nghĩa của kinh Niết-bàn. Niết-bàn trong Pāli là nibbāna, về ngữ nguyên sanskrit, là từ phái sinh từ gốc động từ nir-√vā (blow) có ý nghĩa là “thổi tắt, làm nguội đi”, được xem là đồng nghĩa với giải thoát. Từ này có khi được thêm tiếp đầu từ pari, Hán dịch là Bát-Niết-bàn, có nơi giải thích rằng nirvāṇa là sự diệt mất phiền não, parinirvāṇa là nhập diệt, tuy nhiên căn cứ vào cách sử dụng thì hai từ này không mấy khác.

Theo như các nghiên cứu, liên quan đến Phật nhập diệt, có lẽ ban đầu chỉ được lưu truyền chi tiết sự thật về sự nhập diệt của đức Thích Tôn ở Kusinagarī, cốt chuyện này dần dần được phát triển để có Kinh Đại Niết-bàn sơ kỳ và Kinh Đại Niết-bàn đại thừa. Trước tiên, văn bản thuộc kinh Niết-bàn sơ kỳ trong A-hàm và Nikāya đều rất ngắn, với những nội dung về “đức Thích Tôn nhập diệt ở Kusinagarī”, “nghi lễ tống táng sau khi nhập diệt”, “sự hối hận của subhadra”, “thời thuyết pháp cuối cùng của đức Phật”. Kinh Du Hành trong Trường A-Hàm Hán dịch, Kinh Mahāparinirvāṇasūtra trong Sanskrit, Kinh Mahāparinibbānasuttanta trong Pāli (Trường Bộ, 16) là những Kinh Niết-bàn có nội dung như trên.

Những Kinh Niết-bàn sơ kỳ này phản ảnh hoàn cảnh biên tập nó, mặc dù chỉ mô tả lịch trình chuyến đi của đức Thế Tôn trước khi nhập diệt, nhưng hoàn toàn không phải chỉ là những sự thật lịch sử của thời Phật. Theo tri thức thông thường thì kinh điển này là ghi chép về sự nhập diệt của đức Phật, nhưng với những yếu tố như thiền định khi nhập diệt, những kỳ tích liên quan đến di thể của đức Phật, và đặc biệt là những ghi chép về việc cúng dường tháp Phật sau đó, là những yếu tố cho thấy có khuynh hướng xem đức Phật là bất diệt. Khác với những kinh điển sơ kỳ (vốn là thuật lại lời dạy của đức Phật khi ngài còn tại thế), kinh này được xem là được thành lập muộn hơn, nhưng chắc chắn đã được thành lập trước thời kỳ Buddhacarita của Aśvaghoṣa, thế kỷ thứ nhất, vì tác phẩm này của Asvaghoṣa có nội dung giống với kinh Niết-bàn này, và được cho là đã chịu ảnh hưởng từ kinh này.

 

Kinh Niết-bàn đại thừa đã được đản sinh dưới sự ảnh hưởng của kinh Niết-bàn sơ kỳ trên. Kinh Niết-bàn Đại thừa nói đến hai nhóm tư tưởng: (1) là tư tưởng Phật thân thường trụ, tức sinh mạng chân thật của đức Phật là vĩnh viễn; và (2) là tư tưởng Phật tánh, Như Lai tạng, tức khả năng có thể thành Phật vốn có nơi tất cả chúng sanh.

 

2. Tài liệu

 

Hệ thống kinh Niết-bàn khá đa dạng, được phát triển qua nhiều thời kỳ. Tạm thời gọi thành 2 nhóm là sơ kỳ tiền đại thừa và đại thừa. Về Kinh Niết Bàn thuộc nhóm sơ kỳ có thể nêu tên một số kinh điển tiêu biểu như sau:

·     Kinh Mahāparinirvāṇasūtra trong Sanskrit[1] (Turfan, Gilgit).

·     Kinh Mahāparinibbānasuttanta trong Pāli (Trường Bộ, 16).

·     Kinh thứ 3, phẩm 8 Nạn, Tăng Nhất A Hàm.

·     Kinh du hành遊行經T1.1.11a7–30b4, 佛陀耶舍và竺佛念dịch khoảng năm 412–13.

·     Kinh Phật bát-nê-hoàn佛般泥洹經 T5, 白法祖 khoảng năm 296–306.

·     Kinh bát-nê-hoàn般泥洹經 T6, không rõ người dịch, 東晉, dịch khoảng năm 317–420.

·     Kinh đại bát-niết-bàn大般涅槃經 T7, 法顯 dịch sau năm 405.

·     Năm quyển sau cùng của Mūlasarvâstivāda vinaya Kṣudrakavastu 根本說一切有部毘奈耶雜事 T1451, 義淨dịch năm 710.

·     Tibet dịch, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ-nại-da Tạp Sự[2].

·     …

 

Nhóm thứ hai thuộc hệ Đại thừa, trong hán tạng, đại khái được gom trong Taisho tập thứ 12, gọi là Bộ Niết-bàn, ở đấy thu thập tất cả có 23 kinh, phần lớn thuộc hệ Đại thừa. Ngoài bộ này, còn có những kinh được xếp ở các tập khác, ví dụ như các kinh ở mục 6 của bài này.

Kinh Niết-bàn thuộc đại thừa thông dụng thường được gọi là Kinh Đại Thừa Niết-bàn, có tên Sanskrit tự nói là Mahāparinirvāṇa-mahāsūtra (Đại Bát Niết-bàn Đại Kinh). hiện không còn bản Sanskrit hoàn chỉnh, nhưng có những mảnh rời lần lượt được phát hiện từ năm 1909[3]. Phiên bản của Kinh niết-bàn này gồm có 3 bản dị dịch, cùng nội dung, trong đó có 2 bản Hán dịch và 1 bản Tibet. Đó là,

1.    Đại Bát Niết Bàn Kinh còn gọi là Bắc bổn Niết-bàn (大般涅槃經, 40 quyển, T374.12.365c-603c, 北涼Dharmakṣema 曇無讖 (385–433) dịch (Xuất Tam Tạng Ký Tập của Tăng Hựu ghi là chia làm 2 lần dịch, Cao Tăng Truyện của Lương Huệ Kiểu ghi là chia làm 3 lần dịch, dịch năm 422).

2.    Đại-Bát-Nê-Hoàn Kinh hay còn gọi là lục Quyển Nê-Hoàn (大般泥洹經, 6 quyển, T376.12.853–899, dịch năm 416–418,Buddhabhadra 佛陀跋陀羅và 法顯 dịch).

3.    ḥPhags pa Yoṅs su mya ṅan las ḥdas pa chen poḥi mdo, Jinamitra dịch, khoảng 13 quyển. P. 788, D. 120.

 

Ngoài ra, trong Hán dịch có Kinh Nam Bổn Niết-Bàn (大般涅槃經, 36 quyển, T375.12.605–852). Do 慧嚴(363–443), 慧觀, 謝靈運đời 劉宋biên tập lại bản của Đàm Vô Sấm 40 quyển, học theo cách phân chương của Lục quyển Nê Hoàn). Bản kinh biên tập này là bản có ảnh hưởng đến Phật giáo vùng văn hoá chữ Hán[4].

 

3. Chương mục đối ứng của 2 bản Hán dịch Đại Thừa Niết Bàn và Nam bổn

 

大般泥洹經T376 Lục quyển

大般涅槃經T375 Nam bổn

大般涅槃經T374 Bắc bổn

1序品q.1

1序品q.1

1壽命品q.1-3

2大身菩薩品q.1

3長者純陀品q.2

2純陀品q.2

4哀歎品q.2

3哀歎品q.2

5長壽品q.2

4長壽品q.3

6金剛身品q.2

5金剛身品q.3

2金剛身品q.3

7受持品q.2

6名字功徳品q.3

3名字功徳品q.3

8四法品q.3

7四相品q.4-5

 

 

 

 

 

 

4如來性品q.4-10

9四依品q.4

8四依品q.6

10分別邪正品q.4

9邪正品q.7

11四諦品q.5

10四諦品q.7

12四倒品q.5

11四倒品q.7

13如來性品q.5

12如來性品q.8

14文字品q.5

13文字品q.8

15鳥喩品q.5

14鳥喩品q.8

16月喩品q.5

15月喩品q.9

17問菩薩品q.6

16菩薩品q.9

18隨喜品q.6

17一切大衆所問品q.10

5一切大衆所問品q.10

 

18現病品q.10

6現病品q.11

 

19聖行品q.11-13

7聖行品q.11-14

 

20梵行品q.14-18

8梵行品q.15-20

 

21嬰兒行品q.18

9嬰兒行品q.20

 

22光明遍照高貴徳王菩薩品q.19-24

10光明遍照高貴徳王菩薩品q.21-26

 

23師子吼菩薩品q.25-30

11師子吼菩薩品q.27-32

 

24迦葉菩薩品q.31-34

12迦葉菩薩品q.33-36

 

25憍陳如品q.34-36

13憍陳如品q.39-40

 

 

4. Nội Dung Tư Tưởng Kinh Niết-Bàn Đại Thừa

 

Kinh này triển khai tư tưởng Phật thân thường trụ[5] và tư tưởng nhất thiết chúng sanh tất hữu Phật tánh. Đổi sự thật lịch sử là niết-bàn để nói sự thường trụ của Phật, tức đã triển khai theo hướng nghịch thuyết. Và với “Phật tánh, Như Lai tạng” như thế là gần như đã đề cập đến “chơn Ātman”. Trong truyền thống Phật giáo, việc nói đến Ātman vốn được coi là điều cấm kỵ, nhưng Kinh Niết-bàn lần đầu tiên phá bỏ điều cấm kỵ đó, sử dụng biểu hiện này một cách tích cực trên lập trường của đại thừa[6].

Như thế, kinh này bảo chứng khả năng thành Phật nơi tất cả chúng sanh, tuy nhiên, trong kinh này có đề cập đến một hạng người không nằm trong đối tượng có thể thành Phật, đó là nhất xiển đề (一闡提icchantika:√iṣ). Và từ xưa trong truyền thống Phật giáo Asia có giải thích khác nhau về vấn đề này. Cụ thể là có hai giải thích khác nhau dựa vào hai lập trường khác nhau về việc có công nhận nhất-xiển-đề thành Phật hay không, đó là (1) lập trường ngũ tánh các biệt (5 chủng tánh riêng biệt), công nhận sự sai biệt trong cứu độ dựa vào Luận Du Già Sư Địa, và (2) lập trường nhất thừa từ cơ sở Kinh Pháp Hoa.

 

Kinh này như từ xưa được nói là “phù luật đàm thường” (nói những điều thường nhật hỗ trợ thêm cho luật), việc quy định những quy luật mới cũng là một đặc trưng của nó. Ví dụ như quy định rằng “để hộ trì cho vị tỳ-kheo nơi hoang vắng, khuyên người cư sĩ tại gia nên dùng vũ khí” (phẩm Kim Cang, T0374.12.0383b20-), hay quy định thường hay được biết là đặc trưng của kinh này là “cấm ăn tất cả các loại thịt” (phẩm Như Lai tánh, T0374.12.0386a12-). Đặc trưng giới cấm ăn thịt của Phật giáo ở Asia có xuất phát từ kinh này.

 

Cũng như trước đã nói, Kinh Niết-bàn và tín ngưỡng tháp Phật có quan hệ mật thiết với nhau. Thuật ngữ Phật tánh trong Kinh Niết-bàn đại thừa thể hiện thông tin này rõ nhất. Nguyên ngữ của chữ Phật tánh là buddhadhātu, đây cũng có ý nghĩa là tố chất / bản chất của buddha, cũng có ý nghĩa là di cốt của buddha.

Do đó, nếu lý giải đúng như nguyên ngữ thì “nhất thiết chúng sanh tất hữu Phật tánh” có nghĩa là nơi tự thân của tất cả chúng sanh có tiềm tại di cốt của buddha. Nếu lấy tín ngưỡng tháp Phật tồn tại từ gốc Phật giáo Ấn Độ làm tiền đề để hiểu câu nói trên thì rất khó. Nhưng vì Buddha ở Ấn Độ không phải là khái niệm trừu tượng mà là sự thật với những yếu tố lịch sử và tháp Phật. Nhục thân buddha đã diệt nhưng tháp Phật thì vĩnh cửu bất diệt. Với ý nghĩa nào đó thì tháp Phật thể hiện buddha vĩnh viễn siêu việt buddha sử thật. Niết-bàn kinh chủ trương rằng bản chất này (buddha vĩnh viễn) có sẵn trong mỗi chúng sanh.

 

Ngoài ra, gần đây có nghiên cứu rằng Kinh Đại thừa Niết-bàn vốn không nói đến tư tưởng Như lai tạng, phần cốt tuỷ của kinh này chỉ nói đến Phật thân thường trụ mà thôi. Phần thành lập trước gọi là “nguyên thuỷ Đại thừa Niết Bàn”, hay loại thứ nhất; phần thành lập sau, tức phần có nói đến tư tưởng Như lai tạng, gọi là loại thứ hai.

 

 

5. Ảnh hưởng của kinh Niết-bàn

 

·     Phạm Võng Bồ-tát giới được xem là văn bản đã được trước tác dựa vào nội dung kinh này và Bồ Tát Địa Trì Kinh Đàm Vô Sấm dịch.

·     Kinh Đại Niết-bàn này được phiên dịch ở Trung Quốc đầu thế kỷ thứ 5, dưới ảnh hưởng của kinh điển này, Đạo sinh (355–434) , Cát Tạng (549–623) đã viết chú thích cho kinh Niết bàn, một thời sự ảnh hưởng này hình thành nên Niết-bàn tông ở Trung Quốc.

·     Ngoài ra, ở bán đảo Triều Tiên, Nguyên Hiểu 元暁viết sách khái quát cho kinh này, ở Nhật Bản những nhân vật thuộc Phật giáo thời Kamakura (鎌倉khiêm thương) như Đạo nguyên, Thân Loan, Nhật liên cũng thường trích dẫn kinh này trong các trước tác.

·     Đặc biệt truyền thống cấm ăn thịt có ảnh hưởng gần như tuyệt đối ở các nước trong hệ văn hoá chữ Hán là cái có căn nguyên từ kinh điển này.

 

6. Giới thiệu một vài nội dung kinh thuộc hệ Kinh Niết Bàn

 

6.1. Kinh Ương-Quật-ma-la

Kinh Ương-Quật-ma-la là kinh đại thừa có tên kinh cùng với kinh điển hệ A-hàm, lấy yếu tố lịch sử vốn có trong truyền thừa của Phật giáo để nói đến “Phật thân thường trụ”, “Như Lai tạng - Phật tánh”. Thủ pháp và nội dung kinh chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Kinh Niết-bàn.

Sự xuất hiện của Aṅgulimāla, chàng thanh niên được xem là quỷ giết người (giết người để lấy ngón tay đeo cổ) trong thành Xá-vệ làm mọi người lo sợ. Để có được ngón tay của người thứ 1000 ông nghĩ đến người đó là mẹ ông thì đức Thích Tôn xuất hiện giáo hoá. Tình tiết đại khái như trên đây được truyền thừa đôi khi có chút thêm bớt. Kinh được triển khai theo phong cách đại thừa, tức phần chủ yếu là phần sau khi Aṅgulimāla quy y Phật, bắt đầu từ đoạn chư thiên, chư thánh chúng tán thán.

Những vị đại đệ tử của Phật và ngài Văn-Thù-Sư-Lợi v.v... tán thán Thích Tôn và Aṅgulimāla rồi bộc bạch kiến giải của mình. Tuy nhiên Aṅgulimāla, người tuyên thuyết “phật thân thường trụ” “như Lai tạng / Phật tánh” đã lần lượt luận phá họ. Trong lời lẽ của phản luận ấy có hơi hướng Kinh Duy-ma. Chủ đề chính là Như Lai pháp thân hay “bất không” của Phật tánh / Như lai tạng, phần này chiếm phần lượng lớn của kinh.

Tiếp theo là phần thuật việc Aṅgulimāla và Văn-Thù-Sư-Lợi đi thăm quốc độ của chư Phật. Sau đó kinh đề cập đến mối quan hệ của Như Lai tạng/ Phật tánh và việc làm Phật, về việc cấm ăn thịt, kẻ huỷ báng, và hộ trì kinh v.v... Sau cùng theo truyền thừa, vua Prasenajit (Ba-tư-nặc, Pasenadi) xuất hiện, đem theo đoàn quân đến bắt quỷ giết người Aṅgulimāla nhưng được cho biết rằng Aṅgulimāla thật ra là Như lai của thế giới phương nam, việc vị ấy phạm tội giết người là huyễn hoá, để giáo hoá chúng sanh. Mọi người đều hiểu rõ, hoan hỷ, tán thán. Trên đây là nội dung khái quát của kinh này.

Tánh cách nghịch thuyết xuyên suốt toàn kinh với dụng ý muốn nói Phật tánh / Như lai tạng. Kinh này được cho là kinh kế thừa của Kinh Niết-Bàn. Ngoài ra, kinh này cũng tuyên ngôn “nhất thiết chư Phật là Thích Ca Mâu Ni Phật”, có đặc sắc xem tất cả chư Phật là đức Thích Tôn.

Cùng với Kinh Niết-bàn, kinh có quan hệ mật thiết với kinh này là Kinh Đại Pháp cổ. Tuy nhiên Kinh Đại Pháp cổ kế thừa thuyết Phật tánh/ Như lai tạng của Kinh Niết-bàn loại thứ hai vừa quay về với thuyết Như lai thường trụ của kinh Pháp Hoa hay kinh Niết-bàn loại thứ nhất. Trái lại, kinh này chú trọng thuyết Như Lai tạng/ Phật tánh. Với điểm này, kinh này mới chính là kinh hậu kế chân thật của kinh Niết-bàn loại thứ hai hơn Kinh Đại Pháp Cổ.

 

Tài liệu:

·   Hán dịch, Ương Quật Ma La kinh, Cầu Na Bạt Đà La dịch, 4 quyển. Taisho No.0120.Vol.2, 512b-544b.

·   Tibet dịch, ḥPhags pa sor moḥi phreṅ ba la phan pa zhes bya ba theg pa chen poḥi mdo, Śākyaprabha, Dharmatāśīla dịch, P. 879.

·   Ngoài ra, tên kinh này cũng được nhắc đến trong Kinh Lăng Già, Kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn.

 

6.2. kinh Đại pháp cổ *Mahābherīsūtra

Là kinh điển thời trung kỳ đại thừa, được xem là đã được thành lập dưới sự ảnh hưởng của thuyết Phật tánh / Như Lai tạng của Kinh Đại thừa Niết-bàn, thuyết Như Lai thường trụ của Kinh đại vân (Taisho 387), thuyết nhất thừa của Kinh Pháp Hoa. Mặt khác cũng biểu thị sự gần gũi với Kinh Bất Tăng Bất giảm, Kinh Ương Quật Ma-la, cũng liên quan một số phẩm của Kinh Đại Tập.

Đầu kinh có bài kệ nói về “niềm vui niết-bàn” (niết-bàn lạc), để giải thích cho câu kệ ấy, kinh đã triển khai những giáo thuyết liên quan tiếp theo. Kinh được chia ra làm 3 đoạn lớn, đoạn thứ nhất nêu ra chủ đề và đặc trưng của kinh này, đoạn thứ hai là phần chủ yếu, thuyết minh cho ý nghĩa “niềm vui niết-bàn”, đoạn thứ ba nói đến chủ đề hộ pháp sau khi Như Lai diệt độ. Đoạn thứ hai chiếm dung lượng lớn của kinh, rõ ràng là phần trọng tâm của kinh này. Tuy nhiên đoạn thứ ba cũng chiếm dung lượng khá lớn.

Tư tưởng chính của kinh là “niết-bàn lạc”, có nghĩa là “Như Lai, người mà đã đạt được giải thoát là thường trụ, an lạc, hữu sắc (có hình tướng)”. Tư tưởng Như Lai tạng/ Phật tánh cũng được lý giải hợp theo tư tưởng Như Lai thường trụ này.

Pháp cổ trong kinh được sử dụng với ý nghĩa là sự thuyết pháp của Phật, như từ thời Phật giáo nguyên thuỷ, có ý nghĩa là sự thuyết pháp của đức Phật đánh phá được tà thuyết của ngoại giáo, đánh phá được phiền não của chúng sanh, như chiến cổ của quân đội khi đánh giặc. Trong kinh này, cũng biểu thị Phật thuyết pháp là pháp cổ, nhưng tư tưởng đặc sắc là: cái bị đánh phá là thuyết không tánh. Tức với kinh đề là Kinh Pháp cổ, kinh này là kinh lấy thuyết Như Lai thường trụ (và thuyết Như lai tạng/ Phật tánh) phá thuyết tánh không. Như thế, kinh này có tư tưởng đối kháng thuyết không tánh, là kinh chiếm vị trí đặc biệt khác trong nhóm kinh điển hệ thống Như lai tạng. Bên cạnh đó, vì có sử dụng “ngũ thiên khởi khứ” (5000 vị [tăng thượng mạn] đứng dậy bỏ đi) “phụ thiểu tử lão” (cha trẻ con già) “hoá thành dụ” (ví dụ hoá thành) “cao nguyên tạc tỉnh” (đào giếng trên cao nguyên)…, nhìn tổng thể là chủ trương nhất thừa / Như Lai thường trụ. Do đó thuộc nhóm văn bản Ấn Độ, cũng có tính cách là chú thích thư của Kinh Pháp Hoa, có giá trị cao về mặt tài liệu.

 

Tài liệu:

·   大法鼓經 T0270, vol. 9, 290b-300b, 求那跋陀羅dịch.

·   ḥPhags pa rnga bo che chen poḥi leḥu zhes bya ba theg pa chen poḥi mdo, Vidyākaraprabha, dPal gyi lhun po dịch; dPal brtsegs hiệu chính, P 888.

 

 

6.3. Phật Thuỳ Bát-Niết-Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh

Thường được biết với tên Kinh Phật Di Giáo, là kinh điển liên quan trực tiếp đến Kinh Niết-bàn. Tuy nhiên cả nguyên điển Sanskrit và bản dịch Tibet đều không được tìm thấy, trong Hán dịch cũng chỉ có 1 bản của Cưu-ma-la-thập. Về nội dung, hầu như hợp với nội dung Phẩm Đại Niết-Bàn của Phật Sở Hành Tán (Buddhacarita) trong Hán dịch, có ý kiến cho rằng đây là kinh được lược xuất ra từ văn bản này.

Kinh bắt đầu từ bối cảnh trước khi Buddha nhập diệt, ngài nói bài pháp cuối cùng. Nội dung là khuyên tuân thủ giới, chế ngự thân tâm, hoàn thành định huệ, cuối cùng nói đến Pháp thân Như Lai thường trụ, khuyên tu hành đừng có phóng dật. Tư tưởng nội dung kinh này ở khoảng giữa kinh niết-bàn sơ kỳ và kinh niết-bàn đại thừa.

Đây là kinh điển được ưa chuộng, thường được đọc tụng ở các nước Đông Á, theo cao tăng truyện thì có nhiều cao tăng đã chú thích cho kinh này. Với lời văn lưu loát, giản tiết, nhưng gom đầy đủ nội dung của niết-bàn, nên giả sử có là kinh được lược xuất ra từ văn bản nào đi chăng nữa cũng được khuyên là nên đọc tụng thọ trì.

 

Tài liệu:

·   Đại chánh Vol.12, No. 389 佛垂般涅槃略説教誡經 (鳩摩羅什譯 dịch), còn gọi là 佛遺教經.

 

 

6.4. Thậm Hy Hữu Kinh (Adbhutadharmaparyāya)

Kinh này có chủ đề tán thán công đức cúng dường tháp vốn đã được kiến lập sau khi thu thập di cốt của Phật niết-bàn. Như đã được thuật ở phần khái quan, Phật niết-bàn được hiểu là có quan hệ mật thiết với tín ngưỡng tháp Phật. Tức là đức Phật sau khi nhập diệt thì tồn tại dưới hình tượng tháp Phật. Và việc sau khi hoả táng rồi thu thập di cốt và xây tháp Phật là mô-típ không chỉ có trong kinh điển đại thừa mà những tác phẩm Phật truyện như Mahāvastu hay Lalitavistara cũng đề cập, đây là điều trọng yếu cần phải chú ý.

Kinh này giống với phần đầu và phần cuối của Kinh Vô Thượng Y (仏説無上依経 T. 669, Vol. 16 do Chân Đế 眞諦dịch), thuộc nhóm kinh đề cập tư tưởng Như Lai tạng. Nói cách khác, Kinh Vô Thượng Y là kinh được sinh ra từ sự kết hợp của Kinh Thậm Hy Hữu này và Luận Bảo Tánh. Và thứ có khả năng kết hợp hai phật điển này là buddhadhātu, nguyên ngữ bao hàm cả hai khái niệm Phật tánh (tư tưởng Như Lai tạng) và di cốt Phật (tín ngưỡng Phật tháp). Trong Sanskrit, cả hai điều này là một từ. Với một từ buddhadhātu này, phải hiểu rằng Phật tháp không chỉ đơn thuần là toà tháp mà đó là chính đức Phật nhập niết-bàn. Đây là điều quan trọng khi lý giải sự tồn tại của đức Phật trong Phật giáo Ấn độ.

Những kinh điển xưng tán công đức tháp Phật như thế này thì khá nhiều kinh lấy niết-bàn làm chủ đề. Ở đó nói rằng công đức cúng dường Phật sanh tiền và Phật đã diệt độ (Phật tháp) là hoàn toàn như nhau. Những kinh tương tợ loại này ngoài ra còn có Hữu Nhiễu Phật Tháp Công Đức Kinh Caityapradakṣiṇagāthā (T700, Vol.16; P no. 987, Vol. 39), Dục Phật Công Đức Kinh (T698, vol.16).

 

Tài liệu:

Có đầy đủ nguyên điển sanskrit, Hán dịch và Tibet dịch.

·   Bentor, Yael. 1988, “The Redactions of the Adbhutadharmaparyāya from Gilgit”, The Journal of the International Association of Buddhist Studies, no. 11/2: 21-52.

·   Tibet dịch: P no. 985, vol.39.

·   Hán dịch có hai loại:

(1) Hậu hán, không rõ người dịch,佛説未曾有經T0688.16.0781a11-. 

(2) Đường, Huyền Trang dịch, 甚希有經T0689.16.0782a08-.

 

6.5. Liên hoa diện kinh *Padma- / Puṇḍarīka-mukha

Kinh có bối cảnh bắt đầu hoàn toàn giống với Kinh Niết-bàn, tức là bài nói chuyện với A-nan khi thầy trò đang trên đường hướng về Kushinagarī sau ba tháng an cư, nói về những điều sẽ xảy ra đối với Phật giáo ngày sau. Khi đó, giáo đoàn sẽ đoạ lạc, trung tâm Phật giáo sẽ thiên chuyển về Kashmīr, sẽ có ác vương Mihirakula[7] xuất hiện, bắt đầu với việc phá hoại bát của Phật, rồi triệt để đàn áp Phật giáo. Và cùng với việc phá hoại Phật tháp, cũng đề cập đến việc Phật giáo diệt vong khỏi thế giới này. Ác vương đó được miêu tả là tái sanh của đệ tử của Pūrana. Sau cùng đem sự tồn tục Phật pháp giao phó cho di-lặc và kinh kết thúc.

Kinh này thuộc mô-típ thể loại kinh nói về sự lo ngại chánh pháp diệt (saddharmavipralopa), nhưng theo nghiên cứu của Yamada Ryujo [1959], nội dung cho thấy kinh không chỉ dừng lại ở động cơ chế tác thường thấy ấy mà thực tế có bối cảnh mang tính chất sự kiện có thật trong lịch sử. Đó là sự xâm nhập Ấn Độ của Hephthalite (dân tộc Hun) khoảng giữa thế kỷ thứ năm cuối vương kỳ Gupta. Thời kỳ này Toramāna thuộc dân tộc Hun tiến vào trung nguyên Ấn Độ, tự xưng vương, tự nhận là hậu kế của vương triều Gupta, có tiền tệ riêng của vương triều với hình chim khổng tước. Con của Toramāna là Mihirakula. Sự tồn tại của vương triều này ở trung nguyên Ấn Độ vào thời đại đó được xác nhận nhờ bia văn, tiền tệ. Chỉ sau 64 năm sau thời kỳ vị vua ấy chi phối Ấn, Kinh Liên Hoa Diện được phiên dịch ở Trung quốc có ghi chép khớp với sự thật lịch sử trên (trên đây là từ nghiên cứu của Yamada Ryujō (1959) p.567-).

Những kinh điển nói về chánh pháp diệt như thế này phần nhiều là kinh có chủ đề niết-bàn, ngoài ra còn có những kinh như Kinh Ma-ha ma-da (T383, vol.12, pp.1005-1015), Kinh Pháp Diệt Tận (T396, vol.12, pp.1118-1119) v.v...

 

Tài liệu:

Chỉ còn Hán dịch: Na-liên-đề Da-xá dịch (năm 583, đời nhà Tuỳ), T12 no.386 pp.1070-1077.

 

 

Tham Khảo

山田龍城Yamada Ryujō (1959)『大乗仏教成立論序説』平楽寺書店。

『シリーズ大乗仏教8:如来蔵と佛性』春秋社2014.

大乗経典解説事典

大蔵経全解説大事典

下田正弘(1997)『涅槃経の研究』春秋社。

Kinh Đại Bát Niết Bàn, HT. Thích Trí Tịnh Việt dịch 

https://nirvanasutranet.com

 

 



[1] Mahāparinirvāṇasūtra. E. Waldschmit ed., Das Mahāparinirvāṇasūtra Teil I-II.

[2] E. Waldschmit ed.,do.

[3] Có thể biết những thông tin liên quan thủ bản ở Habata Hiromi幅田裕美2014「佛性の宣言:涅槃経」 『シリーズ大乗仏教8』, pp. 142-166.

[4] Trong bản dịch Việt kinh tụng của cố hoà thượng Thích Trí Tịnh, theo tên chương và số quyển thì là dịch Việt của Nam bổn T375 này và Hậu phần là của T377. Đại Bát Niết Bàn Kinh Hậu phần T377 do 若那跋陀羅dịch, 2 quyển. Kinh hậu phần gồm có các phẩm là: phẩm Kiều Trần Như (dư), phẩm Di giáo, phẩm Ứng Tận Hoàn Nguyên, phẩm Cơ cảm trà tỳ, phẩm Thánh khu khuếch nhuận (cúng dường xá-lợi). Nội dung tập trung miêu tả những sự kiện lịch sử Phật nhập diệt, khác với các bản trên là miêu tả phần giáo lý.

[5] Thủ bản đoạn phiến hiện còn Sanskrit: nityo bhagavāṃ buddha (đức Phật Thế Tôn là thường hằng).

[6] Cần có kiến thức phân biệt “chơn ngã” của Đại thừa và Ātman của Bà-la-môn.

[7] Tại vị khoảng 510-540, vương triều Hephthalite, Bắc Tây Ấn Độ.

Bài viết cùng chuyên mục
Mục lục