BÀI VII. HỆ THỐNG KINH PHÁP HOA
A. Saddharmapuṇḍarīka-sūtra
1. Khái quan
Saddharmapuṇḍarīka-sūtra là tên Sanskrit của Kinh Pháp Hoa. Trong đó, chữ sad- cũng có nghĩa là đúng, cũng có nghĩa là thiện lành v.v..., chữ này trong bản dịch của Trúc Pháp Hộ dịch là Chánh (正), bản dịch của Cưu-ma-la-thập dịch là Diệu (妙), Tibet dịch là Dam pa (đúng đắn, thiện lành, thù thắng)[1]. puṇḍarīka là hoa sen trắng, hoa này được cho là loài hoa cao quý trong các loài hoa, dụ cho ý nghĩa rằng Kinh Pháp Hoa này là tối thượng trong các kinh. Và cũng còn được gọi là kinh vương (vua trong các kinh).
Theo các nhà chuyên môn, Kinh Pháp Hoa được xem là kinh điển đại thừa xuất hiện vào khoảng 100 năm trước sau Tây lịch, tức cùng hoặc sau thời kỳ Kinh Bát-nhã. Các giả thuyết chia sự thành lập của kinh ra làm các giai đoạn riêng, các thuyết có khác nhau, tuy nhiên điểm gặp gỡ của các thuyết này là hầu hết đều xem các phẩm sau cùng (từ phẩm Dược Vương Bổn Sự trở đi) là được thành lập muộn hơn[2].
Về thủ bản Sanskrit của Kinh Pháp Hoa, có lẽ do sức ảnh hưởng lớn và được tín phụng ở nhiều địa phương, Kinh Pháp Hoa là bản kinh còn tồn tại nhiều thủ bản nhất. hiện nay, thủ bản của kinh này được biết đến là thủ bản được tìm thấy ở Gilgit, Nepal, trung Á. Trong đó, bản hoàn chỉnh và thông dụng nhất là thủ bản Nepal. Các thủ bản chủ yếu đã được hiệu đính và xuất bản đại khái có các bản như sau:
(1) Saddharmapuṇḍarīka, ed. by H. Kern and Bunyiu Nanjio, Saint-petersbourg, Imprimerie de I’Académie impériale des Sciences, 1908-1912 = Bibliotheca Buddhica X. Đây là bản hiệu chính dựa vào thủ bản được phát hiện ở Nepal, có tham chiếu các thủ bản khác.
(2) Kaitei Bonbun Hokekyō(改訂梵文法華經)= Saddharma-puṇḍarīkasūtram, romanized and revised text of the Bibliotheca Buddhica publication by consulting a Sanskrit Ms. and Tibetan and Chinese translations, ed. by U. Wogihara and C. Tsuchida. Tokyo, Seigo kenkyukai, Taisho University, 1934-1935. (Photomechanically reprinted by Sankibo Busshorin, Tokyo 1985) . Đây là ấn phẩm dựa vào bản hiệu đính của Kern, đối chiếu với các bản Hán dịch, Tạng dịch và dịch ra Nhật ngữ hiện đại.
(3) Saddharmapuṇḍarīkasūtram, with N.D. Mironov’s Readings from Central Asian MSS., ed. by Nalinaksha Dutt, Calcutta, Asiatic Sosiety, 1953 = Bibliotheca Indica. A Collection of Oriental Works, Work No. 276.
(4) Saddharmapuṇḍarīkasūtra, ed. by P.L. Vaidya, Darbhanga : The Mithila Institute, 1960, (Buddhist Sanskrit Texts, 6).
(5) Saddharmapuṇḍarīka manuscripts found in Gilgit, edited and annotated by Shoko Watanabe, Tokyo: Reiyukai, part I: 1972- Part I: 1975 (pt. 1. Photographic reproduction -- pt. 2. Romanized text).
Ngoài ra, các thủ bản Sanskrit về kinh Pháp Hoa đã được phát hiện cũng được thu thập và xuất bản cả dưới dạng ảnh chụp và La-tinh hoá.
Theo tài liệu Hán dịch, vốn có 6 bản dịch đầy đủ nhưng hiện còn có 3, đó là:
(1) Chánh Pháp hoa kinh (正法華經) T. 0263 Trúc Pháp Hộ竺法護 (230?-316) dịch.
(2) Diệu Pháp Liên Hoa kinh (妙法蓮華經) T.0262 Cưu Ma La Thập鳩摩羅什 (344-413) dịch.
(3) Thiêm phẩm Diệu Páp Liên Hoa kinh (添品妙法蓮華經) T.0264 Xà Na Quật Đa 闍那崛多*Jñānagupta/Jinagupta (523-600?), Cấp Đa笈多 (-619) dịch).
Ngoài ra còn có những bản dịch rời như 佛以三車喚経được cho là của Chi Khiêm (223-253) dịch. Và riêng Phẩm Phổ Môn của kinh này hiện cũng được tìm thấy bản dịch tiếng Tây Hạ (Tangut) và Hồi Hộc (Uighur).
Nội dung và thứ tự của ba bản toàn dịch trên có khác nhau. Dưới đây liệt kê ra cụ thể tên các chương của ba bản này cùng với bản Sanskrit để tiện theo dõi.
2. Đối chiếu các bản
|
正法華 |
妙法華 |
添品法華 |
Saddharmapuṇḍarīkasūtra |
|
光瑞1 |
Tựa 1 |
nt. 1 |
nidānaparivarta 1 |
|
善權2 |
Phương tiện 2 |
nt. 2 |
upāyakauśalyaparivarta 2 |
|
應時3 |
Thí dụ 3 |
nt. 3 |
aupamyaparivarta 3 |
|
信解4 |
Tín giải 4 |
nt. 4 |
adhimuktiparivarta 4 |
|
薬草5 |
Dược thảo dụ 5 |
nt. 5 |
oṣadhīparivarta 5 (Dược thảo) |
|
授声聞決6 |
Thọ ký 6 |
nt. 6 |
vyākaraṇaparivarta 6 |
|
往古7 |
Hoá Thành dụ 7 |
nt. 7 |
pūrvayogaparivarta 7 (Mối liên hệ với quá khứ) |
|
授五百弟子決8 |
Ngũ bách đệ tử thọ ký 8 |
nt. 8 |
pañcabhikṣuśatavyākaraṇaparivarta 8 |
|
授阿難羅云決9 |
Thọ học vô học nhơn ký 9 |
nt. 9 |
Ānandādivyākaraṇaparivarta 9 (Thọ ký cho A-nan v.v... |
|
薬王如来10 |
Pháp sư 10 |
nt. 10 |
dharmabhāṇakaparivarta 10 |
|
七宝塔11 |
Kiến bảo tháp 11 |
nt. 11 |
stūpasaṃdarśanaparivarta 11 (Hiện xuất tháp) |
|
|
Đề-bà-đạt-đa 12 |
||
|
勸説12 |
Khuyến trì 13 |
nt. 12 |
utsāhaparivarta 12 |
|
安行13 |
An lạc hạnh 14 |
nt. 13 |
sukhavihāraparivarta 13 |
|
菩薩從地踊出14 |
Tùng địa dõng xuất 15 |
nt. 14 |
bodhisattvapṛthivīvivarasamudgamaparivarta 14 (Bồ-tát xuất hiện từ chỗ đất nứt) |
|
如來現壽15 |
Như lai thọ lượng 16 |
nt. 15 |
tathāgatāyuṣpramāṇaparivarta 15 |
|
御福事16 |
Phân biệt công đức 17 |
nt. 16 |
puṇyaparyāyaparivarta 16 |
|
勸助17 |
Tuỳ hỷ 18 |
nt. 17 |
Anumodanāpuṇyanirdeśaparivarta 17 (nói rõ công đức tuỳ hỷ) |
|
歎法師18 |
Pháp sư công đức 19 |
nt. 18 |
dharmabhāṇakānuśaṃsāparivarta 18 |
|
常被輕慢19 |
Thường bất khinh bồ-tát 20 |
nt. 19 |
sadāparibhūtaparivarta 19 |
|
如來神足行20 |
Như lai thần lực 21 |
nt. 20 |
Tathāgatarddhyabhisaṃskāraparivarta 20 |
|
|
Chúc luỵ 22 |
|
|
|
藥王菩薩21 |
Dược vương Bồ-tát bổn sự 23 |
nt. 22 |
bhaiṣajyarājapūrvayogaparivarta 22 |
|
妙吼菩薩22 |
Diệu Âm bồ-tát 24 |
nt. 23 |
gadgadasvaraparivarta 23 |
|
光世音普門23 |
Quán thế âm bồ tát phổ môn 25 |
nt. 24 |
samantamukhaparivarta 24 (Hướng mặt đến mọi nẻo) |
|
總持24 |
Đà-la-ni 26 |
nt. 21 |
dhāraṇīparivarta 21 |
|
淨復淨王25 |
Diệu trang nghiêm vương bổn sự 27 |
nt. 25 |
śubhavyūharājapūrvayogaparivarta 25 |
|
樂普賢26 |
Phổ hiền bồ-tát khuyến phát 28 |
nt. 26 |
samantabhadrotsāhanaparivarta 26 |
|
囑累27 |
|
chúc luỵ 27 |
anuparīndanāparivarta 27 (Lưu hậu thế) |
Như có thể thấy, trong đây điểm khác nhau của các bản là: bản dịch của Cưu-ma-la-thập có 28 phẩm, phẩm Chúc luỵ sau phẩm Như lai thần lực - trước phẩm Dược vương bổn sự. Trong khi hai bản còn lại và cả bản Sanskrit hiện tại thì có 27 phẩm (phẩm 11 Hiện bảo tháp và phẩm 12 Đề-bà-đạt-đa là 1 phẩm), và phẩm chúc luỵ được xếp sau cùng như thứ tự thông thường của kinh điển Phật giáo. Chính vì điều này, một vài ý kiến giả thiết rằng từ phẩm Dược vương Bồ-tát Bổn Sự trở về sau là phần được thêm vào sau này. Tức văn bản này có lịch sử thành lập theo từng giai đoạn.
3. Nội dung Tư tưởng đặc sắc
· Tư tưởng nhất thừa (eka-yāna): ba thừa phương tiện, nhất thừa chân thật.
· Tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật (lời của Thường Bất Khinh bồ-tát; vào tháp miếu xưng Nam Mô Phật, đồng tử chơi trò lấy cát làm tháp Phật): Tư tưởng này tiếp nhận tư tưởng tứ tánh bình đẳng của đức Phật lịch sử.
· Tín ngưỡng Lễ bái Tháp Phật.
· Tín ngưỡng Thọ trì kinh điển: vì kinh này là vua trong các kinh, là xá lợi pháp thân.
4. Kinh Pháp hoa trong văn bản Phật giáo Ấn độ
Kinh Pháp Hoa được dẫn chứng trong những tác phẩm được cho là của Long Thọ như Đại Trí Độ Luận, Bồ-đề Tư Lương luận, Đại Thừa Bảo Yếu Nghĩa Luận, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Thành Tựu Pháp. Trong những tác phẩm được cho là của Thế Thân như Kim Cang Tiên Luận, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích, Bí Nghĩa Phân Biệt Nhiếp Sớ, Phật Tánh Luận...
Kinh Pháp Hoa cũng được dẫn trong các luận thư của Trung Quán, như trong Trung Quán Tâm Luận Thích của Bhāviveka, Bát-nhã Đăng Luận Quảng Sớ của Avalokitavrata, Nhập Trung Luận Thích của Candrakīrti. Trong luận thư của Kamalaśīla có ở: Tứ Bách Luận Quảng Sớ, Trung Quán Quang Minh, Thất Bách Tụng Bát-Nhã Kinh Quảng Thích, Kim Cang Bát-Nhã Kinh Quảng Thích, Nhiếp Chân Thật Luận Thích: dẫn để làm luận cứ cho tư tưởng nhất thừa. śāntideva trong Tập Bồ Tát Học Luận, dẫn phẩm An Lạc Hạnh trong phẩm Hộ Pháp Sư để minh chứng cho tư tưởng bồ-tát hạnh.
Trong luận thư của Du-già hành: Bảo Tánh Luận dẫn chi tiết Thanh văn được thọ ký; Chú thích thư Bảo tánh luận dẫn chi tiết Hoá Thành dụ để mô tả Niết-bàn là phương tiện của đức Như Lai. Asvabhāva (D71a) và Sthiramati (D126a5) chú thích cho Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, phẩm Bồ-đề, kệ 41 (sự tự tại của chư Phật) đã dẫn kinh này, theo đó, có khả năng Maitreya đã dựa vào kinh Pháp Hoa Phẩm Pháp Sư Công Đức để lập kệ này. Ratnakaraśānti: trong Bát-nhã Ba-la-mật-đa U-ba-đề-sá, nơi văn mạch giải thích liễu nghĩa vị liễu nghĩa cũng đã dẫn kinh Pháp Hoa nói nhất thừa liễu nghĩa.
Văn bản Abhisamaya vốn được cho là của Maitreya, là khái yếu thư của kinh Bát-nhã, có nhiều bản chú giải cho luận thư này, trong đó, cái có đề cập đến kinh Pháp Hoa là bởi Ārya-vimuktisena với Hiện Quán Trang Nghiêm Luận Chú D3787.29b-30a và Hiện Quán Trang Nghiêm Luận Tụng Thích D3788.13a đề cập đến niết-bàn của thanh văn, cụ thể là Xá-lợi-phất. Haribhadra với Hiện Quán Trang Nghiêm Luận Thích Quang Minh Luận dẫn chi tiết Xá-lợi-phất được thọ ký và “thừa thì chỉ có một không có hai” (Kern 36; Wogihara 133-134). Haribhadra đã lý giải Kinh Pháp Hoa với đặc điểm chi tiết là tư tưởng nhất thừa, giống với học giả tăng phái Trung quán Kamalaśīla.
5. Chú thích cho Kinh Pháp Hoa
Tác phẩm thuộc Phật giáo Ấn Độ tiêu biểu có Pháp Hoa Kinh Luận (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu-ba-đề-sá妙法蓮華經憂波提舍 T. 1519) bởi Thế Thân.
Trong truyền thống Phật giáo chữ Hán, tác phẩm chú thích cho Kinh Pháp Hoa khá phong phú, đặc biệt thuyết có ảnh hưởng nhất là của Thiên Thai Tông Trí Khải天台大師智顗 (538~597). Đại sư Trí Khải phân tích sự cấu thành của Kinh Pháp Hoa thành hai phần: Tích môn và Bổn môn. 14 phẩm đầu gọi là Tích Môn, tức từ phẩm Tựa đến phẩm An lạc hạnh, 14 phẩm sau gọi là Bổn Môn, nội dung từ phẩm Tùng Địa Dõng Xuất phẩm thứ 15 đến cuối.
Tư tưởng trong Tích môn (跡門) nói đến việc hai thừa Thanh văn Duyên giác đều sẽ thành Phật (nhị thừa tác Phật).Tích có nghĩa là dấu tích để lại, Thích Tôn thị hiện sắc thân nơi đời là để khai quyền hiển thật, hay khai tam hiển nhất (nói ba thừa: Thanh văn, Độc giác, Bồ-tát để hiển thị Phật thừa), dụ dẫn chúng sanh vào Phật thừa.
Tư tưởng Bổn môn (本門) nói đến quan điểm về Phật-đà của tín đồ Pháp Hoa. Tức Thích Tôn vốn đã là Phật đã giác ngộ từ vô thỉ kiếp (cửu viễn thật thành). Điều này có vẻ có liên quan đến truyền thống đa Phật của Phật giáo, trong chủ trương liền mạch của Kinh Pháp Hoa, phẩm Như Lai Thọ Lượng giải thích rằng những đức Phật đã được giới thiệu trong truyền thống Phật giáo vốn dĩ là do đức Cửu viễn Thật thành Thích-Ca Như Lai phương tiện giới thiệu để làm chúng sanh hoan hỷ tín phụng.
Có nhiều giải thích cho nội dung Kinh Pháp Hoa nhưng sự phân chia tích môn bổn môn này ảnh hưởng tuyệt đối đến việc nghiên cứu sau này về Kinh Pháp Hoa ở Đông Á.
6. Ảnh hưởng của kinh Pháp hoa trong văn hoá Phật giáo
Là kinh điển đại thừa được các truyền thống Phật giáo Bắc truyền ưa chuộng,
l Là giáo lý chủ đạo của Thiên Thai Tông (Trung Quốc), Nhật liên tông (Nhật Bản).
l Tư tưởng Nhất Phật thừa ảnh hưởng đến Huệ quán慧観 (tk4–5), Đạo sinh道生 (355–434), Pháp vân法雲 (467–529), cát tạng吉蔵(544−623), Khuy cơ窺基(623−682), Pháp tạng法蔵(643−712)...
l Tín ngưỡng quán Thế Âm.
l Ảnh hưởng đến Phật giáo mĩ thuật: hiện bảo tháp, long nữ thành Phật....
B. Kinh điển liên quan
1. Kinh Quan Âm
Phẩm Quán Thế Âm Bồ-tát Phổ môn của Kinh Pháp Hoa được lưu truyền độc lập từ rất sớm. Trong Hán dịch được biết đến hai tên gọi: từ Chánh Pháp Hoa (Trúc Pháp Hộ dịch) là Quang Thế Âm kinh, hay từ Diệu Pháp Hoa (La-Thập dịch) là Quán/ Quan Thế Âm kinh. Tác phẩm kinh lục của ngài Tăng Hựu (445-518) đời nhà Lương Trung Quốc là Xuất Tam Tạng Ký Tập có ghi rõ điều này (cf. T2145.55.0022b16). Có lẽ do đây là văn bản chú trọng tín ngưỡng Quán Thế Âm. Tín ngưỡng này vốn đã được phát triển sâu rộng trên khắp các lãnh thổ thuộc vùng có ảnh hưởng văn hoá Phật giáo. Thủ bản đoạn phiến về phẩm Phổ môn được viết bằng tiếng Hồi Hộc (Uighur), tiếng Đột Quyết (Turkey), tiếng Mông Cổ (Mongol) đã được phát hiện, hay ghi chép của Huyền Trang trong Đại Đường Tây vức Ký về những thánh tích linh thiêng của Quan Âm trong cuộc hành trình của ông cũng cho biết điều này.
Về tên gọi Bồ-tát Quán Thế Âm, thường được biết đến bởi Kinh Phổ Môn ghi về lòng từ bi của ngài đối với chúng sanh. Nhưng thật ra, theo các bản dịch Hán, danh xưng của vị bồ-tát này không thống nhất: Trúc Pháp Hộ dịch là Quang Thế Âm (光世音), La-thập dịch là Quán Thế Âm (観世音), Huyền Trang dịch là Quán Tự Tại (観自在). Theo thủ bản Sanskrit được phát hiện ở Nepal hiệu chính bởi Kern và Nanjo, tên Sanskrit của Bồ-tát Quán Thế Âm là Avalokiteśvara (avalokita + iśvara = [đấng] tự tại trong quan sát), đúng với dịch ngữ của Huyền Trang. Nhưng trong thủ bản đoạn phiến được phát hiện ở vùng Trung Á là Avalokita-svara, svara nghĩa là âm thanh. Và về chữ Quang Thế Âm, có giả thuyết rằng cũng có khả năng đã tồn tại chữ āloka thay vì avalokita trước. Tức là sự sai biệt trong các bản Hán dịch có thể vốn vì đã dựa trên các bản Phạn khác nhau.
2. Các kinh điển khác thuộc hệ thống kinh Pháp hoa
Đại chánh tạng chia bộ Pháp hoa gồm các kinh từ số 262-277[3], trong đó, Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa (無量義經 T.0276 và Quán Phổ hiền Bồ Tát Hạnh Pháp (佛説觀普賢菩薩行法經 T.0277), được xem là hai kinh khai và kết của kinh Pháp hoa, tạo thành hệ thống Pháp hoa với tên gọi “pháp hoa tam bộ kinh” (法華三部経). Việc 2 kinh này được xem là kinh khai và kết của Kinh Pháp Hoa là bắt đầu từ đại sư Trí Giả Thiên Thai tông. Các kinh còn lại được xếp trong bộ này với một lý do cơ bản nhất đó là vì có tư tưởng nhất thừa.
Kinh Vô Lượng Nghĩa
Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa là kinh ngắn trong khoảng 1 quyển với 3 chương. Do Đàm-Ma Già-Đà-Da-Xá 曇摩伽陀耶舍 (-481-) dịch. Tên Kinh Vô Lượng Nghĩa xuất hiện trong phẩm Tựa của Kinh Pháp Hoa (sau khi nói Kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa giáo bồ-tát pháp Phật sở hộ niệm xong đức Phật nhập vào chánh định tên là Vô Lượng Nghĩa xứ, hiển thị tín hiệu để bắt đầu nói Kinh Pháp Hoa) là căn cứ chủ yếu để xếp kinh này vào bộ Pháp Hoa. Chương tựa của kinh nói về việc đại chúng tán thán mĩ đức của Phật. Chương thứ hai nói tất cả chư Phật tánh tướng không tịch, tướng chân thật ấy là không, vô tướng, chúng sanh vì không biết điều này mà rơi vào những kiến giải sai biệt nên luân hồi chịu khổ. Do đó đức Phật mới nói pháp Vô lượng nghĩa. “Vô Lượng Nghĩa” nghĩa là “chư pháp có vô lượng ý nghĩa”. Chương này cũng nói “do phương tiện mà nói ra nhiều bài pháp. Hơn 40 năm chưa hiển bày cái chân thật”, cho rằng những pháp đã nói từ trước kinh này đều là phương tiện, từ kinh này trở đi là chân thật. Chương thứ 3 nói kinh này có 10 công đức lực bất tư nghì khiến hành giả mau chóng hoàn thành vô thượng bồ-đề….
Quán Phổ hiền bồ-tát hạnh pháp
Kinh này do vị tăng người Kashmir là Đàm-Mô Mật-Đa 曇無蜜多đời Lưu Tống (424-453) dịch. Còn gọi là Phổ Hiền Quán Kinh. Là kinh ngắn trong phần lượng một quyển, nội dung nói đến hạnh Phổ Hiền, pháp sám hối lục căn, người hành sám hối này có thể thành Phật. Kinh này được xếp vào kết Kinh Pháp Hoa là vì ở Kinh Pháp Hoa có phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát.
Tài liệu Tham khảo
· 国訳一切経 法華部.
· 講座大乗仏教4法華思想,春秋社1983.
· シリーズ大乗仏教4大乗仏典I,春秋社2013.
· 勝呂信静,『法華経の成立と思想』, 東大出版,1993.
· 望月海慧2014「インドにおける法華仏教の展開」
· Thích Trí Tịnh dịch, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
· Thích Trí Quang dịch, Kinh Pháp Hoa.
· Donald S. Lopez Jr., Trần Văn Duy dịch, Kinh Pháp Hoa: Tiểu Sử - Đời Sống Của Các Giáo Điển Vĩ Đại, NXB. Hồng Đức, 2023.