Thứ Năm, 20/02/2025

Văn học Sanskrit Phật giáo (11) - Hệ thống kinh điển tư tưởng Không - Trung quán

Loạt bài Văn học Sanskrit Phật giáo nhằm giới thiệu về điển tịch Phật giáo Ấn Độ hệ Phạn ngữ. Đây là giáo trình được biên soạn giảng dạy cho học phần Văn học Sanskrit Phật giáo của SC. Thích nữ Thanh Trì.

BÀI XI: HỆ KINH ĐIỂN TƯ TƯỞNG KHÔNG – TRUNG QUÁN

 

I. Kinh Duy-ma-cật (Vimalakīrti-nirdeśa[-sūtra])

1. Giới thiệu

 

Tên kinh là Vimalakīrti-nirdeśa có nghĩa là “lời dạy của Vimalakīrti”. Vimalakīrti có nghĩa là “người được xưng là đã lìa khỏi nhiễm ô”, là nhân vật chính của kinh này.

Vimalakīrti ở thành phố thành phố Vaiśārī. Vốn trong quá khứ đã tích tập căn lành, đã thành tựu đến có thể gọi là Phật, nhưng vì để dẫn dắt chúng sanh nên sinh ra làm người tại gia sống ở thành này. Một hôm Vimalakīrti biết Thế Tôn đến thuyết pháp ở thành đó liền giả bệnh. Thế Tôn biết liền sai đệ tử đi thăm Vimalakīrti. Nhưng mọi người đều từ chối vì biết sự đối ứng biện tài của Vimalakīrti. Tuy nhiên thì cuối cùng Manjuśrī quyết định đi thăm Vimalakīrti, Manjuśrī dẫn đầu cùng với nhiều bồ-tát, thanh văn và chư thần đến nhà Vimalakīrti. Khi được Manjuśrī hỏi bệnh thế nào, Vimalakīrti đáp “vì chúng sanh có bệnh nên tôi cũng bệnh”. Điều này làm rõ bản tánh bệnh của Vimalakīrti. Tiếp theo sau đó là sự đối biện của Manjuśrī và Vimalakīrti, đối biện này đã chạm đến tinh tuý của tư tưởng không. Sau đó có một vài vấn đấp của các vị thanh văn, thiên nữ... Cao trào của buổi vấn đáp này là sự im lặng của Vimalakīrti ở phẩm Nhập Bất Nhị Pháp Môn. Kinh cũng cho biết Vimalakīrti từ thế giới Diệu Hỷ đến.

Kinh biểu hiện nhiều nghịch thuyết để đề cập không tánh. Đây là kinh điển đặc biệt được biết rộng rãi và được yêu chuộng bởi nhân vật chính là nam cư sỹ tại gia chứng đắc không tánh.

 

2. Tài liệu

Thủ bản Sanskrit lần đầu tiên được xuất bản năm 2001 bởi Đại học Taisho, xuất hiện ở cung Potala Lhasa Tây Tạng, cùng với Kinh Trí Quang Minh Trang Nghiêm thuộc nhóm tư tưởng Như lai tạng.

Bản Sanskrit hiện được khuyên dùng là:

·     大正大学綜合佛教研究所『梵文維摩経』(大正大学綜合佛教研究所梵文研究会、2006).

Hán dịch có đến 7 bản dị dịch, trong đó có bản được dịch sớm nhất bởi嚴佛調 (-181-). Tuy nhiên, hiện còn có thể tham khảo được là ba bản như sau.

·     Phật thuyết Duy-ma-cật kinh佛說維摩詰經,  2 quyển, [T474, vol.14], Ngô, Chi Khiêm dịch.

·     Duy-ma-cật sở thuyết kinh維摩詰所說經, 3 quyển, [T475, vol.14], Dao Tần, Cưu-ma-la-thập dịch.

·     Phật thuyết Vô Cấu Xưng kinh說無垢稱經, 6 quyển, [T476. Vol.14], Đường, Huyền Trang dịch.

Tibet dịch có:

·     ‘Phags pa Dri med grags pas bstan pa źes bya ba theg pa chen po’i mdo, (P.843; D. ). Dịch bởi Chos ñid tshul khrims (8th Century A.D.?),

 

Ngoài ra có bản Phạn, Tạng, Hán Đối Chiếu, bản này rất tiện dụng.

·     大正大学綜合佛教研究所『梵蔵漢対照「維摩経」』(大正大学綜合佛教研究所梵語佛典研究会、2004)(Study Group on Buddhist Sanskrit Litterature (2004), Vimalakīrtinirdeśa: Transliterated Sanskrit Text Collated with Tibetan and Chinese Translations, Study Group on Buddhist Sanskrit Literature, The Institute for Comprehensive Studies of Buddhism, Taisho University, Tokyo.

 

3. Đối Chiếu Chương Mục Sanskrit Và Các Bản Hán Dịch

 

Sanskrit

T474 

T475

T476

1. buddhakṣetrapariśuddhinidānaparivartaḥ prathamaḥ

1.佛國品

1.佛國品

1. 序品

2. acintyopāyakauśalyaparivarto nāma dvitīyaḥ

2. 善權品

2. 方便品

2. 顯不思議方便善巧品

3. śrāvakabodhisatvavisarjanapraśno nāma tṛtīyaḥ parivartaḥ ||

3. 弟子品

4. 菩薩品

3. 弟子品

4. 菩薩品

3. 聲聞品

4. 菩薩品

4. glānapratisaṃmodanāparivartaś caturthaḥ

5. 諸法言品

5. 文殊師利問疾品

5. 問疾品

5. acintyavimokṣasaṃdarśanaparivartaḥ pañcamaḥ

*6. 不思議品

6. 不思議品

6. 不思議品

6. devatāparivartaḥ ṣaṣṭhaḥ

7. 觀人物品

7. 觀眾生品

7. 觀有情品

7. tathāgatagotraparivartaḥ saptamaḥ

 

8. 如來種品

8. 佛道品

8. 菩提分品

8. advayadharmamukhapraveśa-parivarto ’ṣṭamaḥ

9. 不二入品

9. 入不二法門品

9. 不二法門品

9. nirmitabhojanānayanaparivarto nāma navamaḥ

10. 香積佛品

10. 香積佛品

10. 香臺佛品

10. kṣayākṣayo nāma dharmaprābhṛtaparivarto daśamaḥ

11. 菩薩行品

11. 菩薩行品

11. 菩薩行品

11. abhiratilokadhātvānayanākṣobhyatathāgata-darśana-parivarta ekādaśaḥ

12. 見阿閦佛品

12. 見阿閦佛品

12. 觀如來品

12. nigamanaparīndanāparivarto nāma dvādaśaḥ

13. 法供養品

13. 法供養品

13. 法供養品

(* tên chương của phẩm này trong T474 hiện được gắn trật lùi một đoạn)

 

4. Tư Tưởng Nội Dung

Kiến lập Phật quốc độ, tịnh độ ở hiện đời này là chủ đề căn bản thường được chú ý ở kinh này. Câu nói nổi tiếng thường được biết đến là: “kỳ tâm độ tịnh tức Phật độ tịnh” cũng phản ảnh nội dung đặc biệt của kinh.

Kinh này thường được biết đến bởi nhân vật Vimalakīrti là nam cư sỹ tại gia chứng đắc tư tưởng không. Tuy nhiên, nhân vật Vimalakīrti xuất hiện là từ phẩm thứ hai. Ở phẩm thứ nhất “Phật quốc độ”, nói đến chủ đề kiến lập Phật quốc độ, nội dung chính của chủ đề này là nội dung mà đức Phật trả lời cho câu hỏi của thanh niên Bảo Tích - Ratnākara, về “hành tướng tịnh độ của bồ-tát”. Chuyên gia cho rằng nội dung của phẩm này về kiến lập Phật quốc độ là chủ đề chính của kinh. Cụ thể là, nội dung từ phẩm thứ 2 đến phẩm thứ 10 mà nhân vật Vimalakīrti nói là bổ thuyết cho những gì đức Phật đã nói về tịnh độ của bồ-tát ở phẩm thứ nhất.

Nơi phẩm thứ nhất này, có Phật ngôn rằng: “quốc độ của chúng sanh là Phật quốc độ của bồ-tát” (satvakṣetraṃ bodhisatvasya buddhakṣetraṃ / I.§12). Bởi vì, “làm sinh khởi lợi ích cho tất cả chúng sanh là Phật quốc độ của chư bồ-tát (satvārthanirjātaṃ bodhisatvānāṃ buddhakṣetram /. I. §12).

Và cụ thể của việc lợi ích chúng sanh của Phật quốc độ ấy là thế nào thì: (1) làm tăng tiến hạnh phúc (upacayaṃ karoti) cho chúng sanh, (2) giáo hoá (vinayo bhavati) chúng sanh, (3) làm chúng sanh nhập vào trí tuệ của Phật (buddhajñānam avataranti), v.v….

Nhưng để có thể đạt được quả là có khả năng làm lợi ích chúng sanh, bồ-tát phải thành tựu nhân là sự tu hành của bồ-tát. Đó là 18 nhân (bản Chi Khiêm và La Thập là 17). 18 nhân này có thể chia thành 5 nhóm:

·     Xuất phát điểm: (1) Trực tâm (āśaya), (2) Thâm tâm (adhyāśaya), (3) Gia hành (prayoga), (4) Bồ-đề tâm (bodhicitta).

·     Sự thực hành căn bản – hành ba-la-mật-đa: (5) Bố thí (dāna-), (6) Trì giới (śīla-), (7) Nhẫn nhục (kṣānti-), (8) Tinh tấn (vīrya-), (9) Thiền định (dhyāna-), (10) Trí huệ (prajñā-).

·     Hướng dẫn tu hành cụ thể thêm: (11) Tứ vô lượng tâm, (12) Tứ nhiếp sự, (13) Thiện xảo phương tiện, (14) Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.

·     Thái độ đối với chúng sanh của bồ-tát: (15) Hồi hướng tâm, (16) Thuyết pháp để trừ 8 nạn, (17) Tự mình giữ giới và không phê bình người khác phá giới.

·     (18) Tịnh tu 10 nghiệp thiện thân, khẩu, ý.

Nơi phẩm này, đức Phật cũng nêu ra một đại tiền đề rằng: “bồ-tát biết tất cả các pháp đồng như hư không (ākāśasamān sarvadharmāñ jñātvā), vì thành thục chúng sanh mà bồ-tát nguyện kiến lập Phật quốc độ như thế”. Từ quan điểm hư không này, uế độ = tịnh độ, “uế độ tức tịnh độ” hay “tịnh uế bất nhị”. Đây cũng chính là nói đến con đường hành bồ-tát, trụ ta bà uế độ để cứu độ cho chúng sanh của đức Phật. 

 

Phật quốc độ chủ đề chính của kinh này là “hiện thế Phật độ” chứ không phải “tha phương Phật độ”. Tuy nhiên, ở phẩm thứ 11 “Kiến A-súc Phật” là giới thiệu một cảnh giới “tha phương Phật độ”. Đây cũng là đặc điểm của kinh thường cùng được chú ý.

 

 

5. Ảnh hưởng

 

Tinh thần phụng sự chúng sanh, xây dựng xã hội của Phật giáo Đại thừa.

 

 

 

Thư mục tham khảo cho Kinh Duy-ma-cật

·     Tuệ Sỹ, Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang.

·     Tuệ Sỹ, Huyền Thoại Duy Ma Cật, Nhà xuất bản Phương Đông.

·     『シリーズ大乗仏教5仏と浄土』、春秋出版社、2013。

·     梵語佛典研究会ed.『梵藏漢 対照『維摩經』』VIMALAKIRTINIRDESA Transliterated Sanskrit Text Collated with Tibetan and Chinese Translations, 大正大学綜合佛教研究所 Study Group on Buddhist Sanskrit Literature THE INSTITUTE FOR COMPREHENSIVE STUDIES OF BUDDHISM, TAISHO UNIVERSITY.

 

 

 

2. Kinh Chuyển Hữu (Bhavasaṅkrāntisūtra)

 

Kinh rất ngắn. Thế tôn dùng ví dụ giấc mộng để nói về sự lưu chuyển từ đời này đời sang khác do tạo nghiệp cho quốc vương Bimbisāra nước Maghada. Thấy thiếu nữ trong giấc mộng khi tỉnh mộng mà cũng chấp trước là kẻ ngu. Cũng thế, kẻ phàm phu cũng ngu ngốc, chấp trước vào sinh mạng vốn dĩ không mà tạo nghiệp. Và khi cận kề tử kỳ, nghiệp tận, thức cuối cùng diệt thì chuyển sang đời sống khác. Tuy nhiên không có vật gì di chuyển từ đời này sang đời sau cả mà chỉ có sự tương tục của cái tử ở đời này và cái sanh ở đời sau. Kinh cũng nói, các pháp chẳng qua chỉ là danh, không phải thực hữu. Đây là ý thú cũng được nói ở kệ cuối cùng khép lại bài kinh. Phần kệ này thường được trích dẫn trong các luận thư Trung Quán và Duy thức.

 

Tài liệu:

Sanskrit được phát hiện và xuất bản bởi Bhikṣuṇī Vinītā (Vinītā, 2010, A Unique Collection of Twenty Sūtras in a Sanskrit Vol. (1) & (2) – Editions and Translation), là kinh số 13 (Bhavasaṃkrāntināmamahāyānasūtra) trong tổng số 20 kinh của xuất bản phẩm này.

 

Hán dịch:

(1) T0575_.14.0948b25: 8佛説大方等修多羅王經, 菩提流支 (đầu tk 6) dịch.

(2) 佛説轉有經 (No. 0576 佛陀扇多(tk 6) dịch ) in Vol. 14.

(3) 佛説大乘流轉諸有經 (No. 0577 義淨譯 ) in Vol. 14.

 

Tibet dịch: P no. 892.

 

 

3. Kinh Đạo Vu (Śālistambasūtra)

 

Kinh có hình thức là Maitreya nói với Śāriputra về ý nghĩa lời dạy của Thế Tôn “thấy duyên khởi là thấy pháp, thấy pháp là thấy Phật”. Tiến hành theo trình tự nhân tương ưng của ngoại duyên khởi, duyên tương ưng của ngoại duyên khởi, nhân tương ưng của nội duyên khởi, duyên tương ưng của nội duyên khởi. Quá trình từ hạt giống sinh ra mầm là nhân tương ưng của ngoại duyên khởi. Sự tích tập sáu yếu tố địa, thuỷ, hoả, phong, hư không, thời tiết làm duyên để mầm sinh ra là duyên tương ưng của ngoại duyên khởi. Cũng thế, 12 nhân duyên từ vô minh cho đến lão tử là nhân tương ưng của nội duyên khởi. Sự tập hợp của sáu yếu tố địa, thuỷ, hoả, phong, hư không và thức làm duyên để phát sinh thân thể là duyên tương ương của nội duyên khởi. Và cả ngoại duyên khởi nội duyên khởi đều nên quán sát bằng năm tướng: không phải thường hằng, không phải đoạn diệt, không phải thiên chuyển, quả lớn sinh ra từ nhân nhỏ, những vật tương tự lần lượt kế tiếp nhau.

Kinh này đặc biệt được trích dẫn, chú giải bởi các luận sư Trung quán như Candrakīrti, Śāntideva, Kamaraśīla v.v..., chính vì điều này có ý kiến cho rằng kinh cũng đã được trả qua nhiều giai đoạn biên tập và thêm thắt nội dung. Đây là loại kinh điển không thể thiếu khi muốn lý giải quan điểm duyên khởi của phái Trung Quán. Theo Ueda Noboru, kinh có nhiều đoạn tương đương với kinh điển Pāli, có thể phần nguyên sơ đã được thành lập từ rất sớm, cũng có học giả cho rằng đã kinh được thành lập khoảng thế kỷ thứ 2 trước Tây lịch.

 

Tài liệu:

Hán dịch có

(1)了本生死經, T0708_.16.0815b04-, 呉月氏ưu bà tắc Chi Khiêm (支謙, đầu tk 3) dịch

(2) 佛説稻芋經 (No. 0709 ) in Vol. 16 không rõ người dịch.

(3) 慈氏菩薩所説大乘縁生稻𦼮喩經 (No. 0710 不空 (705-774) dịch) in Vol. 16

(4) 大乘舍黎娑擔摩經 (No. 0711 施護 tk 10-11 dịch) in Vol. 16.

(5) 佛説大乘稻芋經 (No. 0712 ) in Vol. 16 (Đôn Hoàng xuất thổ).

 

Tibet dịch có P no. 876

 

Sanskrit nguyên điển hiện không được tìm thấy nhưng dựa vào dịch bản Tibet và các luận thư, có bản hoàn Phạn của L. de la Valle Poussin: Buddhisme, Études et Matériaux, Théorie de Douze Causes, Gand, 1913. Bản hoàn phạn này là cơ sở cho dịch bản tiếng Pháp.

Ngoài ra, bản hoàn Phạn từ dịch bản Tibet còn có N. A. Sastri, Ārya Śālistamba sūtra, Adyar Library, 1950.

 

Anh Nhật dịch ngữ hiện đại và nghiên cứu đại biểu có:

·     Reat, N. R. (1993). The Śālistambha Sūtra: Tibetan Original, Sanskrit Reconstruction, English Translation, Critical Notes (including Pali Parallels, Chinese Version, and Ancient Tibetan Fragments). Motilal Banarsidass Publishing House.

·     﨑山忠道2022『「稲芉経」(Śālistambasūtra)の研究』東洋大学審査学位論文 (甲).

 

 

4. kinh Tam-muội vương (Samādhirājasūtra) / Kinh Nguyệt Đăng Tam-muội (Candrapradīpasūtra)

 

Kinh này nói đến tư tưởng không, có thể tài là Thế Tôn khuyến khích thái tử Candraprabha (Nguyệt Quang đồng tử) hoạch đắc tam muội “nhất thiết pháp thể tánh bình đẳng vô hý luận”. Kể về những câu chuyện xuất gia của nhiều vị vua và vương tử nhưng những câu chuyện ấy không được cấu trúc kỹ lưỡng mà chỉ là những đoản biến của những chuyện kể, ở đó các chủ đề thuộc tư tưởng không được biến tấu. Những chủ trương về giáo lý của kinh đại khái: nhất thiết là không, huyễn; dù nhập niết-bàn cũng hành hạnh lợi tha; xa lìa hai cực đoan, đạt đến bất nhị. Ngoài ra, kinh còn ký thuật nhiều thí dụ, thần thông... có nhiều chi tiết thể hiện cao trào mang tính văn học.

Kinh này được trích dẫn trong các tác phẩm của Candrakīrti và Śikṣāsamuccaya của Śāntideva.

 

Tài liệu:

Nguyên điển Sanskrit:

N. Dutt, gilgit Manuscripts, Vol. II, 1954; P. L. Vaidya, Samādhirājasūtram, Buddhist Sanskrit Texts no. 2, 1961.

Hán dịch:

(1) T 639 月燈三昧經 (No. 0639 那連提耶舍(557) dịch ) in Vol. 15.

(2) T 640 佛説月燈三昧經 (No. 0640 先公(đầu tk 5) dịch ) in Vol. 15 (tương đương phần đầu của quyển 6 của T639, tương đương chương 26-28 của bản Dutt.

(3) T 641 佛説月燈三昧經 (No. 0641 先公譯 ) in Vol. 15. Khác nhiều so với bản Dutt và bản T 369.

Tibet dịch:

P no. 795.

 

Anh dịch: K. Regamey, Three Chapters from the Samādhirājasūtra, Warsaw, 1938.

Nhật dịch: 『大乗仏典11&12:三昧王経I&Ⅱ』田村智淳/一郷正道 訳、中公文庫, 2003-2004.

 

 

5. Kinh A-xà-thế Vương *Ajātaśatrukaukṛtyavinodana

 

Tên kinh hiện được biết là Ajātaśatrukaukṛtyavinodana: giải trừ (vinodana) sự ân hận (kaukṛtya) của Vua a-xà-thế.

Phật ở Linh Thứu sơn, các bồ-tát nói với nhau về việc làm thế nào để có thể đạt được trí huệ của Phật. Ngài Văn-thù làm xuất hiện hoá Phật, làm cho thính chúng nhận thấy tánh như huyễn của nhất thiết pháp. Chính sự tự giác về như huyễn tánh ấy là nhất thiết tri, cái thấy bình đẳng về sự tồn tại của Phật và của con người. Đức Phật khen ngợi Văn-thù. Tuy nhiên ở đó cũng có những vị thần vì nghĩ rằng việc thành Phật khó khăn, muốn bỏ hạnh bồ-tát. Đức Phật biết thế nên dùng thần thông để thay đổi tâm họ. Thần thông ấy là cho thấy bát của Phật (Ngài Văn-thù sư lợi ngồi yên tại chúng hội mà lấy cái bát đang bay qua nhiều quốc độ Phật).

Sau đó vua A-xà-thế thăm Phật. A-xà-thế vốn phạm tội giết phụ vương nên bất an. Phật bảo Xá-lợi-phất thay A-xà-thế thỉnh ngài Văn-thù. Sáng hôm sau, ngài Văn-thù cùng chư bồ-tát đến vương cung. Sau khi ăn xong, được vua A-xà-thế hỏi, Văn thù trả lời rằng bất an (kaukṛtya) của vua thì không thể gột bỏ được cho dù là hằng hà sa số chư Phật xuất hiện. Và thuyết pháp với ý chỉ rằng nhất thiết pháp là bất sanh bất diệt, bổn lai vô, bổn lai niết-bàn. Sau khi nghe pháp xong A-xà-thế tính trùm y quý lên cúng dường Văn thù. Khi đó Văn thù biến mất, từ trên không trung nghe tiếng rằng “hỡi nhà vua, hãy trao y đó cho người có thể nhìn thấy hình tướng”. A-xà-thế liền làm như thế đến chư tỳ-kheo nhưng họ đều lần lượt biến mất. Sau cùng vua liền trùm y đó lên mình. Khi đó thân thể liền biến mất, tâm cũng mất. Cuối cùng vấn đề của A-xà-thế đã giải quyết được.

Kinh này có chủ đề giải quyết vấn đề ác nghiệp bằng tư tưởng không. Ueda Noboru cho biết, kinh này không được trích dẫn nhiều trong các luận thư trung quán nhưng chú thích Nhập Trung Luận của Tsongkapa thì có dẫn kinh này.

 

Tài liệu:

阿闍世王經 T 626

Sanskrit đoạn phiến được biết bởi :〈阿闍世王経〉サンスクリット語断片, Harrison P. and Hartmann J. U. [2000]: “Ajātaśatrukaukrtyavinodanāsūtra,” Buddhist Manuscripts I, Manuscripts in the Schøyen Collection, Vol. I, Hermes Academic Pub., Oslo, pp. 167-216.

 

Hán dịch:

(1) 佛説阿闍世王經 (No. 0626 支婁迦讖(147-186) dịch) in Vol. 15

(2) 文殊師利普超三昧經 (No. 0627 竺法護(tk 3) dịch) in Vol. 15

(3) 佛説未曾有正法經 (No. 0628 法天(tk 11) dịch) in Vol. 15 (T 628; Skt. Ajātaśatru-kaukṛtyavinodana-sūtra)

(4) 佛説放鉢經 (No. 0629 ) in Vol. 15 (kinh này chỉ có phần thần thông Phật bát)

Ngoài ra theo truyền thừa còn có ba bản dịch khác.

 

Tibet dịch: P no. 882

 

 

Hiện đại dịch Nhật Bản ngữ: 宮崎 展昌 2023『蔵文和訳 阿闍世王経』起心書房。

Nghiên cứu đại biểu: 宮﨑展昌2012『阿闍世王経の研究―その編纂過程の解明を中心として』(インド学仏教学叢書 15)山喜房仏書林。

 

 

 

 

Tham khảo chung:

大乗経典解説事典

大蔵経全解説大事典

 

Bài viết cùng chuyên mục
Mục lục