BÀI XII: HỆ KINH ĐIỂN TƯ TƯỞNG DUY THỨC VÀ NHƯ LAI TẠNG
A. Khái quan
Trong Phật giáo sử, tại Ấn Độ và cả tại những nơi Phật giáo được triển khai như Trung Quốc hay Tibet, tư tưởng Duy Thức của học phái Du-già hành là hệ thống tư tưởng ấn độ đại biểu, song hành với tư tưởng Trung quán. Trong khi, tư tưởng Như Lai tạng thật ra, trừ Pháp Tạng thuộc Hoa nghiêm tông Trung Quốc, vốn không được xem là tư tưởng của một học phái độc lập mà là khái niệm tư tưởng được xác định trong phạm vi “như lai tạng” bởi học vấn nghiên cứu gần đây. Hai hệ tư tưởng này như thế đáng lý ra phải được giới thiệu độc lập, nhưng như các nhà nghiên cứu đề nghị[1], vì hệ tư tưởng duy thức phát triển theo xu hướng kinh điển không nhiều mà với hình thức luận thư, nếu xét nội dung văn bản của tư tưởng Như lai tạng theo từng giai đoạn phát triển cũng sẽ thấy tư tưởng duy thức trùng hợp trong đó.
[Kinh điển của Duy thức]
Thật ra hiện tại vẫn không có định thuyết chắc chắn kinh điển nào là kinh điển của hệ tư tưởng duy thức ngoài học thuyết của Từ Ân đại sư Khuy Cơ trong Du-già luận ký, ở đó có đưa ra sáu kinh (1) Kinh Hoa Nghiêm, (2) Kinh Giải Thâm Mật, (3) Kinh Như Lai xuất hiện Công Đức, (4) Kinh [Đại thừa] A-tỳ-đạt-ma, (5) Kinh Lăng già, (6) Kinh Đại thừa Mật nghiêm. Trong đó, kinh Đại thừa A-tỳ-đạt-ma(4) hiện không thể xác định được, mặc dù tên kinh này và một vài phần trọng yếu của kinh được trích dẫn trong các luận thư của Du-già hành Duy thức. Kinh Như Lai xuất hiện Công Đức(3) được suy đoán có lẽ là cái tương tợ với phẩm Như Lai Xuất Hiện (*Tathāgatotpattisaṃbhavanirdeśa) của Kinh Hoa Nghiêm.
Như thường được biết, tư tưởng duy thức (chẳng qua chỉ là thức / chẳng qua chỉ do thức) vốn được biểu hiện trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Địa: “tam giới duy tâm”[2]. Minh ngôn này thường được các luận thư của Du-già hành trích dẫn, và về sau trở thành văn ngôn cơ bản của tư tưởng duy thức.
Kinh Giải Thâm Mật là kinh điển y cứ của học phái Du-già hành. Theo các chuyên gia kinh này có hình thái đậm chất luận thư, khác với kinh điển thông thường. Mối liên quan của kinh này và luận Du-già làm các nhà nghiên cứu phải đặt nó trong trường hợp cá biệt, tức không như mối quan hệ trước sau như những kinh và luận thông thường, kinh này và luận Du-già của học phái Du-già hành có khi phải hiểu ngược lại.
Kinh Lăng-già và Kinh Đại thừa Mật Nghiêm được xem là những văn bản làm phát triển học thuyết phật thân của Du-già hành để xác lập thuyết tam thân: báo thân (saṃbhogakāya), pháp thân (dharmakāya), ứng thân (nirmāṇakāya).
[Tư tưởng của du-già hành duy thức]
Có ba học thuyết được xem là ba cây trụ chính của tư tưởng Du-già hành, đó là thuyết tam tánh, thức luận và bồ-tát đạo. Ba nhóm tư tưởng này có khởi nguyên khác nhau, trong đó đặc biệt thuyết tam tánh và thức luận đã dần dần dung hợp trong quá trình phát triển. Ba học thuyết này của Du-già hành được học giới nghiên cứu hiện đại nghiên cứu khá kỹ.
[Hệ kinh điển Như Lai Tạng]
Tư tưởng Như lai tạng cũng có khi được gọi là tư tưởng Phật tánh. Nói nôm na là “phàm phu đều sẵn có nhân thành Phật, hay Phật vốn dĩ có trong tất cả phàm phu”. Đức Phật ở trong chúng sanh ấy được gọi là như lai tạng (tathāgatagarbha), Phật tánh (buddhadhātu).
Kinh điển hệ Như Lai tạng là những văn bản có chủ trương này, với nhiều hình thức biểu hiện khác nhau. So với tư tưởng duy thức, tư tưởng như lai tạng này phần nhiều được thể hiện dưới hình thức kinh điển. Về luận thư có Luận Bảo Tánh, là văn bản tóm tắt tư tưởng này một cách có hệ thống. Do đó việc nghiên cứu về tư tưởng này, ngày nay người ta thường chuẩn theo Luận Bảo Tánh. Theo lập trường của luận này thì Kinh Như Lai Tạng, kinh Bất Tăng Bất Giảm, kinh Thắng-man được nhóm thành một nhóm, cũng có nơi gọi ba kinh này là “Như lai tạng tam bộ kinh”, tức nhóm kinh điển chú trọng nói về Như lai tạng.
Như trước đã đề cập, Kinh Niết-bàn cũng có khái niệm Phật tánh, nhưng có thể xem Phật tánh đó khác với hệ thống tư tưởng này.
[Tư tưởng Như lai tạng]
Nhất thiết chúng sanh có Như lai tạng, chúng sanh dù có bị ngăn che bởi khách trần phiền não nhưng vốn dĩ có Như lai. Để hoàn thành hệ tư tưởng Như lai tạng này, những tư tưởng về pháp thân, tự tánh thanh tịnh tâm, chủng tánh, giới, tín ngưỡng tháp Phật … được xem là tiền đề.
Về thể hệ tư tưởng này, có một tác phẩm nghiên cứu giới thiệu cẩn thận có uy tính trong học giới, đó là sách Nyoraizo shiso no keisei (Sự hình thành tư tưởng Như lai tạng) của Takasaki Jikido (高崎直道1974『如来蔵思想の形成:インド大乗仏教思想の研究』春秋社).
B. Các kinh điển tiêu biểu
1. Kinh Như Lai Tạng (*Tathāgatagarbhasūtra)
Như tên đề của kinh, Kinh Như Lai Tạng có nghĩa là kinh điển lấy tư tưởng Như Lai Tạng (tathāgatagarbha) làm chủ đề, trong Luận Bảo Tánh, khi giải thích câu “nhất thiết chúng sanh là Như Lai tạng” (sarvasattvās tathāgatagarbhāḥ) đã dẫn kinh này như là điển cứ đầu tiên, có thể nói, đây là kinh điển nguyên tổ của tư tưởng Như Lai tạng. Theo giải thích của luận này thì, “tạp nhiễm pháp của tâm vô thỉ đến nay và thanh tịnh pháp của tâm vô thỉ đến nay là câu sanh (cùng sanh khởi) - bất khả phân, được nói rõ bằng những ví dụ của Kinh Như Lai Tạng này”.
Kinh Như lai tạng bắt đầu từ chi tiết đức thế Tôn nhập tam-muội và hiện thần thông trước sự chứng kiến của chư tỳ-kheo, ở núi Linh Thứu thành Vương xá. Trên không trung nở ra vô số hoa, trên đó có vô số Như lai đoan toạ, dù hoa héo nhưng chư như lai vẫn toả sáng. Bồ-tát Kim cang Huệ (Vajramati) thấy sự thần diệu này liền hỏi đức Phật nguyên do. Nội dung của kinh là thuyết minh cho điều đó.
Trong kinh có nói đến 9 ví dụ: (1) Như lai trong hoa sen, (2) thuần mật được bao bọc trong tổ ong, (3) hạt cốc được che đậy trong vỏ trấu, (4) vàng báu bị rơi nơi chỗ bất tịnh, (5) kho báu trong nhà bần, (6) mầm cây trong hạt xoài, (7) tượng vàng trong vải rách, (8) bần nữ mang thai vua, (9) tượng vàng ròng trong khuôn đúc. Tất cả những ví dụ này đều biểu thị ý nghĩa là có Như lai chân thật trong phiền não. Do đó chủ trương của Kinh Như Lai Tạng là: nhất thiết chúng sanh là như lai tạng = tàng chứa Như Lai. Điều cần lưu ý là tathāgatagarbha (Như lai tạng) được sử dụng với tư cách là sở hữu phức hợp ngữ.
Tài liệu:
Hán dịch có hai loại:
(1) 大方等如來藏經 (No. 0666 佛陀跋陀羅 (Đông Tấn) dịch) in Vol. 16.
(2) 大方廣如來藏經 (No. 0667 不空 (Đường) dịch ) in Vol. 16.
Tibet dịch có P no. 927.
Cả ba dịch bản trên được hiệu đính xuất bản bởi Bukkyo Bunka Kenkyuso (Nhật Bản): 『漢蔵三譯対照如来蔵経』佛教文化研究所編. -- 佛教文化研究所, 1959. -- (経典対照シリーズ ; 第1).
Hiện đại dịch ngữ:
Nhật ngữ: 高崎直道dịch『大乗仏典12如来蔵系経典[3]: 如来蔵経』Daijo Butten 12/ Nyoraizokei Kyoten, Chuokoron, 1975.
Kinh này không còn nguyên văn Sanskrit, chỉ còn có thể xác định được văn Sanskrit từ những phần được Luận Bảo tánh trích dẫn. Những trường hợp này đã được Takasaki Jikido chỉ rõ trong bản dịch Nhật ngữ.
Ngoài ra, theo Kinh Lục, kinh này còn có hai bản dịch khác đã bị mất, trong bản hiệu đính của Bukkyo Bunka Kenkyusho có ghi rõ về điều này.
2. Kinh Bất Tăng Bất Giảm (*Anūnatvāpūrṇatvanirdeśa)
Kinh này rất ngắn, nhưng chiếm vị trí trọng yếu trong sự hình thành tư tưởng Như Lai tạng. Đặc biệt được Luận bảo tánh tôn trọng, lấy làm điển tịch sở y khi nói về sự đồng nghĩa giữa Như lai tạng (tathāgatagarbha) và dhātu, ở đó ảnh hưởng của Kinh Niết-bàn trở nên mờ nhạt hơn. Điều này cho thấy Kinh Bất tăng Bất Giảm đã có cách sử dụng thuật ngữ dhātu mang tính lý luận hơn, trừu tượng hơn Kinh Niết-bàn. Khi đọc kinh này điểm đáng chú ý là biểu hiện súc tích về tư tưởng “nhất giới”, vốn có nguồn gốc trong các Phật điển đại thừa của Ấn Độ.
Kinh có bối cảnh ở thành Vương Xá, ngài Śāriputra hỏi rằng nơi chúng sanh có sự tăng (pūrṇatva) hay giảm (ūnatva) hay không; đức Thế Tôn trả lời rằng, chúng sanh giới không có sự tăng giảm, đệ nhất nghĩa đế (paramārtha) chính là nhất pháp giới (ekadhātu), đó chính là chúng sanh giới (sattvadhātu), cũng chính là như lai tạng (tathāgatagarbha). Tức là, khi nhìn từ mối quan hệ với phiền não thì chúng sanh được phân ra thành 3 tướng: (1) chúng sanh bị phiền não che lấp từ vô thỉ, (2) bồ-tát thực hành hạnh ba-la-mật v.v..., (3) Như lai đã đoạn tận phiền não.
Nhưng thật ra, chúng sanh mê muội và pháp thân giác ngộ là cái có cùng bản chất Như lai tạng. Khi pháp thân tồn tại nơi chúng sanh giới thì đó gọi là Như lai tạng, khi rời khỏi đó thì trở thành pháp thân thuần nhiên. Do đó, chúng sanh, pháp thân, như lai tạng chẳng qua chỉ là tướng trạng khác biệt của nhất giới, hoàn toàn không phải là cái khác biệt về bản chất.
Tài liệu:
Kinh này chỉ còn 1 bản Hán dịch: 佛説不増不減經 (No. 0668 Nguyên Nguỵ菩提流支năm 525 dịch ) Vol. 16.
Nguyên điển Sanskrit tuy không còn nhưng kinh này được Luận Bảo Tánh trích dẫn khá dài, nên có thể thu thập được một phần nguyên điển từ luận này.
3. Kinh Thắng-man (*Śrīmālādevīsiṃhanāda-sūtra)
Là một trong những kinh điển đại thừa tiêu biểu nói đến tư tưởng Như Lai tạng. Cũng được Luận Bảo Tánh trích dẫn những phần có tư tưởng trọng yếu. Trường hợp muốn học về tư tưởng như lai tạng thì cùng với việc nghiên cứu Luận Bảo Tánh, cũng cần phải nghiên cứu kinh này.
Nhân vật chính của kinh này là phu nhân Thắng Man, con gái vua Ba-tư-nặc, kinh có cấu tạo giàu kịch tính, trong đó, đức Thế Tôn đã lần lượt thừa nhận những giáo thuyết mà phu nhân này nói ra. Vì có nhân vật chính nữ cư sỹ tại gia nên kinh này thường được biết song song với kinh Duy-ma, khá gần gũi trong tín đồ Phật giáo, nhưng theo các chuyên gia, đây là bản kinh có nhiều chỗ không dễ lý giải.
Toàn thể chủ đề là chí nguyện của phu nhân Thắng Man, chí nguyện ấy được tóm tắt trong việc hộ trì chánh pháp với sự giác ngộ buông bỏ cả thân thể, sinh mạng, tài sản. Ở đây nói chánh pháp có nghĩa là giáo pháp đại thừa, được xem là đồng nghĩa với pháp thân, niết-bàn, bồ-đề. Như lai pháp thân ấy là thường, lạc, ngã, tịnh; có đầy đủ đức tánh lý tưởng, là quy y xứ đứng đầu pháp và tăng trong tam bảo.
Sự giác ngộ của thanh văn, độc giác là còn vô minh tiềm tại, không phải là sự chứng ngộ niết-bàn hoàn toàn. Mục tiêu của giáo pháp là sự thể đắc như lai pháp thân này, trong tứ đế chỉ có diệt đế mới được xem là đối ứng với pháp thân. Pháp thân trong hình thái lý tưởng này khi ở trong thế giới hiện thực này thì gọi là như lai tạng. Như lai tạng được nói trong kinh này có khác với như lai tạng trong Kinh Như Lai Tạng. Ở đây như lai tạng cũng là sở y của sanh tử (hữu vi pháp) và niết-bàn (vô vi pháp), có tính cách giống với a-lại-da thức của tư tưởng duy thức.
Tài liệu:
Hiện còn Hán dịch có hai loại:
(1) 勝鬘師子吼一乘大方便方廣經 (No. 0353 Lưu Tống求那跋陀羅dịch) in Vol. 12.
(2) 勝鬘夫人会 hội thứ 48 kinh Đại Bảo Tích, Đường Bồ-đề-lưu-chi dịch.
Tibet dịch: P no. 760.
Nguyên điển Sanskrit hiện không được tìm thấy nhưng Luận Bảo Tánh và cả Śikṣāsamuccaya cũng có trích dẫn kinh này, nên có thể hoàn nguyên được ít nhiều. Luận Bảo tánh trích dẫn kinh văn giống với bản hán dịch (1), trong khi bản Tibet dịch hợp với Hán dịch (2).
Hiệu chính các dịch bản này có 藏漢和三譯合璧勝鬘經・實月童子所問經,月輪賢隆trước thuật,興経書院, 1940.
Ngoài ra, kinh này có ảnh hưởng lớn đến Phật giáo Đông Á, có nhiều bản chú giải cho kinh này. Trong Thắng man Giảng Luận của HT. Tuệ Sỹ (Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang, 2005) có ghi rõ.
4. Kinh Trí Quang Minh Trang Nghiêm (Sarvabuddhaviṣayāvatāra-Jñānālokālaṃkārasūtra)
Đức Phật giảng về pháp môn “bất sinh bất diệt”, “Bất sinh bất diệt” chính là bản chất thực sự của Như Lai (không đến, không đi, không hình tướng, không sinh diệt). Đức Phật sử dụng 9 ví dụ (bóng Đế Thích, trống trời, mây mưa,…) để minh họa cho bản chất này. Kinh nhấn mạnh rằng Đức Phật/Như Lai không phải là một nhân vật lịch sử sinh-diệt hữu hạn, mà chính là Chân như pháp thân vô sinh vô diệt, bình đẳng bao trùm vạn vật. Sự xuất hiện, hình tướng và lời dạy của đức Phật trong thế gian chỉ là phản chiếu linh hoạt theo nghiệp duyên và tấm lòng cầu đạo của chúng sanh. Đây là một tiền đề quan trọng cho sự phát triển của học thuyết Như Lai tạng.
Kinh này được xếp trong nhóm Kinh Bảo Tích, được xem là chịu ảnh hưởng của phẩm Như Lai Tánh Khởi thuộc Kinh Hoa Nghiêm.
Bản kinh này cũng được Luận Bảo Tánh trích dẫn nhiều phân đoạn cốt lõi để làm điển cứ.
Tài liệu:
Sanskrit nguyên điển được san hành năm 2001, bởi đại học Đại Chánh cùng với nguyên điển Kinh Duy-ma-cật.
Ngoài ra đoạn phiến của kinh cũng được phát hiện ở vùng Trung Á.
Các bản Hán dịch hiện còn có ba loại:
(1) 如來莊嚴智慧光明入一切佛境界經 (No. 0357 曇摩流支譯) in Vol. 12.
(2) 度一切諸佛境界智嚴經 (No. 0358 僧伽婆羅譯) in Vol. 12.
(3) 佛説大乘入諸佛境界智光明莊嚴經 (No. 0359 法護譯) in Vol. 12.
Tibet dịch P no. 768.
5. Kinh Kim Quang Minh (Suvarṇaprabhāsa)
Kinh này là 1 trong 9 kinh báu của Phật giáo Nepal. Ở các nước đông Á và cả Việt Nam cũng được tín phụng là kinh hộ quốc. Kinh với phần đầu là nói đến công đức trì kinh, kế đến có sự xuất hiện của bồ-tát Diệu Tràng (妙幢, Ruciraketu: tràng phan (ketu) sáng/ đẹp (rucira)[4]) nêu ra nghi vấn về việc đức Thế Tôn chắc chắn phải là thọ mạng vô lượng nhưng vì sao 80 tuổi lại vào niết-bàn. Điều này được giải thích rằng, Như lai là pháp thân thường trụ, vào niết-bàn chỉ là phương tiện, và Diệu Tràng bồ-tát được giải nghi. Tối, Diệu Tràng mơ thấy cái trống vàng rồi thốt lên bài kệ sám hối (deśanā). Sau khi tỉnh dậy liền đến chỗ Thế Tôn và nói ra bài kệ ấy. Chính sự sám hối ấy là nội dung tư tưởng chính của kinh, ánh sáng của trống vàng ấy là nguồn gốc tên Kinh Kim Quang Minh. Sau đó, còn có nhân duyên tán của Diệu Tràng và thuyết không tánh.
Phần lưu thông của kinh này rất dài. Trước tiên là nói tứ thiên vương và chư thiên quỷ thần thủ hộ người trì kinh, nhân dân và quốc vương trì kinh, khuyến khích lưu bố và hộ kinh. Sau đó nói nếu quốc vương thực hành theo chánh pháp thì được thiên thần thủ hộ, nếu hành phi pháp thì bị thiên thần từ bỏ, quốc gia diệt vong.
Sau khi nói về nhiều công đức của kinh và thọ ký cho Diệu Tràng v.v..., kinh đề cập đến bổn sanh của đức Thích Tôn. Chuyện trưởng giả Lưu Thuỷ (Jalavāhana) cứu cá và chuyện thái tử Ma-ha-tát-đoả (Mahāsattva) thí thân cho hổ đói. Chuyện thí thân cho hổ đói này cũng được tìm thấy ở Kinh Hiền Ngu v.v...
Tư tưởng như lai tạng của kinh này được nói trong phẩm Phân Biệt Tam thân, chỉ tồn tại trong Hán dịch (2) (3) và Tibet dịch (1) (2). Có nội dung là pháp thân = tự tánh của như lai = như lai tạng, giống với giải thích của Luận Bảo Tánh.
Tư tưởng sám hối diệt tội của kinh này là một trong những khuynh hướng chung của kinh điển đại thừa. Ở đây sám hối diệt tội này cùng với hồi hướng (pariṇāmanā) là có thể siêu việt khỏi quy tắc nghiệp báo. Đây không phải là tư tưởng thông thường của hệ A-hàm, Nikaya. Đại thừa Phật giáo với sức từ bi của Như lai, đưa ra phương thức sám hối diệt tội này muốn làm cho con người giải phóng khỏi quy tắc ấy.
Tài liệu:
Nguyên điển Sanskrit có 3 bản được san hành:
(1) The Suvarṇaprabhāsa sūtra: A Mahāyāna text called "The golden splendour", revised and edited by Hokei Idzumi. -- The Eastern Buddhist Society, 1931.
(2) Suvarṇaprabhāsottamasūtra = Das Goldglanz-Sūtra: ein Sanskrittext des Mahāyāna-Buddhismus, Nach den Handschriften und mit Hilfe der tibetischen und cinesischen Übersetzungen, edited by Johannes Nobel, 1937.
(3) Suvarnaprabhasasutra, Buddhist Sanskrit texts no. 8, edited by S. Bagchi. 1967 và sau đó.
Hán dịch có:
(1) 金光明經 (No. 0663 曇無讖譯 ) in Vol. 16.
(2) 合部金光明經 (No. 0664 寶貴合曇無讖譯 ) in Vol. 16.
(3) 金光明最勝王經 (No. 0665 義淨譯 ) in Vol. 16.
ngoài ra theo truyền thừa kinh này còn có bản dịch của Chân đế và của Da-xá-quật-đa.
Tibet dịch:
(1) P no 174, được biết do Pháp Thành dịch từ Hán dịch (3).
(2) P no. 175 dịch bởi Jinamitra, Śīlendrabodhi, Ye shes sde.
(3) P no. 176, không rõ dịch giả, tên kinh giống với (2).
Việt ngữ hiện hành của kinh này có hai bản thường được các chùa đọc tụng, đó là bản do HT. Thích Thiện Trì dịch và bản do HT. Thích Trí Quang dịch, cả hai bản này đều dịch từ tạng chữ Hán, bản HT. Thích Thiện Trì dịch từ bản dịch của Đàm Vô Sấm T663, bản HT. Thích Trí Quang dịch từ bản dịch của Nghĩa Tịnh T665.
Kinh này có nhiều tài liệu để nhiên cứu. Ngoài trên ra còn có những dịch ngữ khác của vùng Trung Á, Sanskrit thủ bản đoạn phiến cũng được tìm thấy. Hiện hành nguyên điển Sanskrit gần với Hán dịch (1) và Tibet dịch (3). Hán dịch (2) (3) và Tibet dịch (2) thể hiện hình thức phát triển, được hiểu là bản đã dựa vào nguyên điển có hệ thống khác với hệ thống bản Sanskrit hiện hành.
Hiện không rõ có luận thư chú thích cho kinh này hay không, nhưng nó được các luận thư Śikṣasamuccaya, Abhisamayālaṃkārāloka, Prasannapadā trích dẫn. Phật giáo Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản có nhiều chú thích cho kinh này.
6. Kinh Lăng-già (Laṅkāvatārasūtra)
6.1. Khái quan
Là kinh điển đại thừa nói về duy thức - như lai tạng. Tuy nhiên giáo lý có đủ không tánh, Phật thân, niết-bàn, quá khứ Phật, ngoài ra còn có cả ngoại giáo và sự tổng quát tư tưởng đại thừa. Theo các chuyên gia, so với các kinh khác, kinh này không có sự thống nhất trong cấu trúc và giáo lý.
Kinh Lăng-già nói đến những khái niệm cơ bản của tư tưởng du-già hành như: ngũ sự (danh, tướng, phân biệt, chân như, chánh trí), tam tánh (biến kế sở chấp, y tha khởi, viên thành thật), bát thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mạt-na, a-lại-da), nhị vô ngã (nhân vô ngã, pháp vô ngã). Ngoài ra, còn có nói đến thức a-lại-da tự tánh thanh tịnh, và việc đồng nhất thức này với Như lai tạng là đặc trưng cần chú ý nhất của kinh này. Các chuyên gia cho rằng tư tưởng này về sau sinh ra Luận Đại thừa khởi tín, có ảnh hưởng lớn đến Phật giáo Đông Á.
Tuy nhiên, những giáo lý này cũng chỉ là công cụ để đạt đến cảnh giới vô phân biệt, sự trọng yếu của việc tự mình thể đắc chân lý thông qua thực tiễn du-già được kinh nhấn mạnh. Với điểm này thì chủ trương của Kinh Lăng-già là có tính nhất quán, và như thế giáo lý và sự cấu thành bất nhất đã nói trên đây không phải là khuyết điểm mà có thể hiểu là phản ảnh đúng ý chỉ của Kinh Lăng-già. Đây là kinh điển dành cho thực tiễn, cho các hành giả tu tập du-già.
Tên kinh Lăng già - Laṅkāvatārasūtra (kinh Nhập Lăng Già) hay Saddharmalaṅkāvatārasūtra (kinh Chánh Pháp Nhập Lăng Già) - có lẽ là từ nội dung chương thứ nhất, duyên khởi và cũng là trú xứ (theo truyền thừa) khi Phật thuyết kinh này.
Trong đó, tên nhân vật quỷ vương Rāvaṇa có cùng tên với quỷ trong Rāmāyana, nên có suy đoán hình thức kinh để quỷ vương Rāvaṇa thỉnh Phật thuyết pháp này là dấu hiệu ảnh hưởng của Rāmāyana thời kỳ văn học Purāṇa (thế kỷ thứ II trở đi).
Pháp Tạng cho rằng Lăng Già có nghĩa là “nan nhập” “hiểm tuyệt”, là cảnh giới của chư Phật khó vào. Nhưng các chuyên gia cho rằng nên hiểu tên kinh theo cách hiểu thông thường của người Ấn Độ, tức là ảnh hưởng từ văn học Purāṇa thì tự nhiên hơn.
6.2. Tài liệu
Nguyên điển Sanskrit có 2 loại được san hành:
(1) The Laṅkāvatārasūtra, edited by Bunyiu Nanjio, 1923, 1956, Kyoto (梵文入楞伽經, 南絛文雄校訂, 大谷大學, Bibliotheca Otaniensis ; v. 1).
(2) Saddharma-laṅkāvatārasūtra, edited by P.L. Vaidya. -- Mithila Insttitute of Post-Graduate Studies and Research in Sanskrit Learning, 1963. -- (Buddhist Sanskrit texts ; no. 3).
Ngoài ra, về hiệu đính Phạn văn, mặc dù có hai bản hiệu đính được san hành nhưng Yasui Hirosumi trong 『梵文和訳 入楞伽経』,法蔵館1976 , đã nêu ra một số hiệu chính đáng chú ý. Đây là tài liệu không nên bỏ qua khi nghiên cứu phiên dịch kinh này.
Hán dịch có 3 loại:
(1) 楞伽阿跋多羅寶經 (T670, Vol. 16, Lưu Tống求那跋陀羅 (năm 443) dịch): gồm có 4 quyển. Đây là bản đặc biệt được chú ý khi khảo sát về hình thức ban sơ của kinh, so với bản Sanskrit hiện hành, bản Hán dịch sớm nhất này không có các phẩm (1) Rāvaṇa vương khuyến thỉnh, (9) Dhārani, (10) kệ tụng Sagāthaka.
(2) 入楞伽經 (T671, Vol. 16, Nguyên Nguỵ菩提流支(năm 513) dịch ). Gồm có 10 quyển.
(3) 大乘入楞伽經 (T672 Vol. 16). Đời Đường實叉難陀 (năm 704) dịch. Gồm có 7 quyển.
Tibet dịch có 2 loại:
(1) P no. 775, 'phags pa lang kar gshegs pa'i theg pa chen po'i mdo / (Arya-laGkAyatAra-mahAyAna-sUtra.)
(2) P no. 776, 'phags pa lang kar gshegs pa rin po che'i mdo las sangs rgyas thams cad kyi gsung gi snying po zhes bya ba'i le'u / (dịch từ bản Hán bởi Chos grub法成755-849).
Việt dịch:
Thể nhập Chánh pháp Lăng Già, 2 tập, Nguyên Giác: Dịch - Lược giải – Chú thích, NXB. Hồng Đức 2024.
6.3. Đối chiếu chương mục của Phạn bản và Hán dịch
bản tiếng Phạn hiện hành có cấu trúc với 10 chương: (1) Rāvaṇa vương khuyến thỉnh, (2) Sự tập thành nhất thiết pháp qua 36000 śloka, (3) Vô thường, (4) Hiện quán, (5) Sự sai lầm đối với quan điểm Như lai là thường hay vô thường, (6) Sát-na, (7) Biến hoá, (8) Việc ăn thịt, (9) Đà-la-ni, (10) Kệ tụng. Trong đây, chương 9 và 10 không tồn tại trong Hán dịch (1): T670.
|
T670求那跋陀 |
T671菩提流支 |
T672實叉難陀 |
Bản Phạn |
|
|
1. 請佛品 |
1. 羅婆那王勸請品 |
1. rāvaṇādhyeṣaṇāparivartaḥ |
|
一切佛語心品第一 |
2. 問答品 3. 集一切佛法品 |
2. 集一切法品 |
2. ṣaṭtriṃśatsāhasrasarvadharmasamuccayo nāma dvitīyaḥ parivartaḥ |
|
4. 佛心品 5. 盧迦耶陀品 6. 涅槃品 7. 法身品 8. 無常品 |
3. 無常品 |
3. Anityatāparivarto nāma tṛtīyaḥ |
|
|
9. 入道品 |
4. 現證品 |
4. abhisamayaparivarto |
|
|
10. 如來常無常品 |
5. 如來常無常品 |
5. tathāgatanityānityaprasaṅgaparivarto |
|
|
11. 佛性品 12. 五法門品 13. 恒河沙品 14. 刹那品 |
6. 刹那品 |
6. kṣaṇikaparivarto |
|
|
15. 化品 |
7. 變化品 |
7. nairmāṇikaparivarto |
|
|
16. 遮食肉品 |
8. 食肉品 |
8. māṃsabhakṣaṇaparivarto |
|
|
|
17. 陀羅尼品 |
9. 陀羅尼品 |
9. dhāraṇīparivarto |
|
|
18. 總品 |
10. 偈頌品 |
10. sagāthakam |
6.4. Chủ đề đặc biệt được chú ý
Như Lai Tạng trong Kinh Lăng-già: được đề cập ở 3 nơi:
(1) Chỗ gọi là tâm tuý của Như lai tạng (Như lai tạng tâm, tathāgatagarbha-hṛdaya) để chỉ cho 1 trong 3 tánh là Viên thành thật tánh[5].
(2) Đoạn chủ trương sự khác nhau giữa Như lai tạng và Ātman của ngoại đạo[6].
(3) Những đoạn xem Như lai tạng và Ālaya là đồng nhất trong phẩm Sát-na[7].
Trong đây, thuyết Như lai tạng (Tathāgatagarbha-vāda) trong phần (2) là hoàn toàn không tìm thấy được trong các kinh điển thuộc hệ Như lai tạng trước đó. Tuy nhiên, thuyết Như lai tạng được gọi là “vô ngã Như lai tạng” này là “thuyết phương tiện cho những chúng sanh sợ không tánh”, có lẽ đây là lập trường đặc biệt của Kinh Lăng Già.
Ngoài ra, phần thứ (1) nói đến Viên thành thật tánh “là chân như đã lìa khỏi phân biệt đối với hình tướng của sự vật vốn là tướng và danh, là sự chứng đắc thánh trí, tức cảnh giới của thánh trí tự nội chứng, là tâm tuý của như lại tạng”. Đây là sự hợp nhất với chủ trương rằng trong Viên thành thật tánh gồm có chân như và chánh trí, tương đương với ly cấu thanh tịnh. Tức là giải thích theo cách xưa của phái Du-già hành.
Đối lại, giải thích đặc sắc trong Kinh Lăng Già là mục thứ (3). Nội dung của “phẩm Sát-na” có những mục như “lưu chuyển (pravṛtti) và hoàn diệt (nivṛtti) của Như lai tạng = a-lại-da thức”, “ngũ pháp và tam tánh”, “nhất thiết pháp sát-na diệt” là những mục có đề cập đến Như Lai tạng = a-lại-da thức. Mô-típ Như lai tạng của phẩm này được cho là giải thích triển khai của thuyết “như lai tạng là nhân của thiện và bất thiện” trong Kinh Thắng Man.
A-lại-da thức trong Kinh Lăng Già: Trước tiên, cần chú ý đến mối quan hệ giữa thức A-lại-da và 7 chuyển thức (pravṛtti-vijñāna) trong 8 thức, mối quan hệ này được nói là: “sóng (taraṅga) 7 chuyển thức trong biển (udadhi) tạng thức”[8]. 7 chuyển thức là 5 thức trước và ý thức, cùng với ý (manas). Nhưng những thức này chỉ là sự chuyển biến (parināma) của thức a-lại-da, những thức này cũng không phải hoàn toàn dị biệt với thức a-lại-da mà cũng không phải là đồng nhất. Khác là, trường hợp sóng chuyển thức không hoạt động thì biển là thức a-lại-da cũng không diệt mất. Nhưng vì thức a-lại-da vi tế nên chỉ có chư Phật Bồ-tát mới biết được.
Sóng và biển dù không phải là hai thực thể khác nhau, và như có thể thấy sóng nổi khi có tác động của gió v.v…, bản thân thức a-lại-da là không biến đổi, nhưng ở đấy bảy chuyển thức hoạt động, cùng với thân thể, đối tượng, hoàn cảnh thế giới mà thức hiện khởi. Nguyên nhân là ở gió vô minh. Khi biết đấy chẳng qua chỉ là sự hiện khởi của tự tâm thì sự sanh khởi của chuyển thức sẽ được biết không sai lầm.
Trước đó, kinh có chỗ phân loại khác về 8 thức[9]. Ở đấy có nói: (1) sanh trụ diệt của thức có 2 chủng loại là, tương tục sanh trụ diệt và tướng sanh trụ diệt; (2) thức có 3 tướng là chuyển tướng, nghiệp tướng, chân tướng; (3) thức có 2 chủng loại là hiện thức và phân biệt sự thức (bản Tống dịch thêm “chân thức” vào đây thành ra 3 loại).
Trong đây, thức a-lại-da là thức chân tướng (jāti-lakṣaṇa), được cho là bất diệt. Trong hai loại diệt trên thì, tướng diệt là chỉ cho “sự diệt của căn thức (=6 thức) do sự diệt trừ tập khí của các loại hư vọng phân biệt (abhūtaparikalpa) có trong thức a-lại-da”. Điều này trong bản Tống dịch là sự diệt trừ của “các chủng loại phân biệt bất thật che phủ chân thức (thức a-lại-da)”. Còn tương tục diệt thì không rõ lắm nhưng có lẽ là chỉ cho sự diệt nơi thức tương tục, tức sự sanh tồn luân hồi. Thức a-lại-da đối với sự diệt nào cũng ở ngoài phạm vi. Và, hư vọng phân biệt không phải là bổn tánh của thức a-lại-da mà chỉ là một phần của nó. Ngoài ra, kinh nói rằng tương tục sanh khởi là sự sanh khởi do tập hợp của nhãn thức, sắc và ánh sáng, hay cũng giải thích là do sự tập hợp của nghiệp, khát ái và vô tri, nhưng đây chính là thế giới của sự sanh khởi theo duyên khởi = thế giới của pháp hữu vi. Nếu nói như thế thì hư vọng phân biệt của thức a-lại-da là cái duyên khởi, nhưng tự tánh của thức thì không được xem là duyên sanh. Những quy định này là cái được nói trong phẩm Sát Na.
Đoạn thứ nhất của phẩm này bắt đầu với câu hỏi rằng, nếu là vô ngã thì cái gì lưu chuyển? cái gì hoàn diệt? Câu trả lời là, Như lai tạng là nhân của thiện và bất thiện, là tác giả của tất cả sanh (tứ sanh) và thú (ngũ thú, lục thú), và giải thích cho điều này là, khi như lai tạng này có tập khí hý luận thì được gọi là thức a-lại-da, cùng với 7 chuyển thức sanh khởi do vô minh tập khí, sanh khởi liên tục như sóng của đại dương, nhưng về cứu cánh thì bổn lai thanh tịnh (prakṛti-pariśuddhi). Ngoài nó ra tất cả 7 thức đều mang tính sát-na. Bảy chuyển thức này sẽ chấm dứt do sự chuyển y của “thức a-lại-da vốn được gọi tên là như lai tạng”. Nếu không có “Như lai tạng mang tên thức a-lại-da” thì cũng không có lưu chuyển hay hoàn diệt. Nó là bổn tánh thanh tịnh nhưng vì khách trần phiền não mà hiện thấy như là bất tịnh. Người tu hành cần phải làm thanh tịnh “Như lai tạng mang tên thức a-lại-da” này. Đây là nội dung trong Phẩm Sát Na.
6.5. Chú thích cho Lăng Già
Ngoài ra, trong tạng Tibet có hai bản chú thích cho kinh này, thuộc nhóm văn bản của Phật giáo Ấn Độ:
(1) P no. 5519, D. No. 4018: 'phags pa lang kar gshegs pa'i 'grel pa / āryalaṅkāvatāra-vṛtti, jānaśrībhadra.
(2) P no. 5520, D. No. 4019: 'phags pa lang kar gshegs pa zhes bya ba theg pa chen po'i mdo'i 'grel pa de bzhin gshegs pa'i snying po'i rgyan zhes bya ba / āryalaṅkāvatāra-nāma-mahāyānasūtravṛttitathāgatahṛdayālaṁkāra-nāma, jānavajra.
7. kinh Giải Thâm mật (*Saṃdhinirmocana-sūtra)
Đây là một trong số ít kinh làm cơ bản của tư tưởng du-già hành. Giải thâm mật có nghĩa là “hiển bày ý chỉ vốn đang tiềm ẩn”. Giải thích này có khi được xem là không phải là ý nghĩa như văn tự, mà có thể đã được tạo ra theo lý luận ngôn ngữ của người Ấn độ tôn trọng ý chỉ của người nói. Dù gì thì kinh này cũng có đặc điểm khai hiển điều chân thật mà vốn dĩ trước đó chưa rõ ràng, theo quan điểm của Du-già hành phái.
Kinh có cấu trúc với những chủ đề: (1) hiển thị tướng chân thật (phẩm Thắng nghĩa đế), (2) thuyết minh về vị trí của tám thức (phẩm Tướng Tâm Ý Thức), (3) Về Tam Tánh (phẩm Tướng của Nhất Thiết Pháp), (4) về quy định liễu nghĩa bất liễu nghĩa (phẩm Vô tự tánh), (5) về tu tập chỉ quán (phẩm Phân biệt du-già), (6) về bồ-tát đạo và tam thừa (phẩm Địa ba-la-mật-đa và như lai thành sở tác sự). Trong đó triển khai bản chất của pháp được gọi là tam tánh: biến kế sở chấp, y tha khởi, viên thành thật, ba tánh này cùng với thuyết a-lại-da thức là luận lý cơ bản của học phái này.
Đây là bộ kinh đại diện cho sự hoàn thành về tư tưởng triết học và tu đạo luận, là kinh điển y cứ của học phái du-già hành.
Tài liệu:
Hiện không có bản sanskrit, nhưng kinh này được trích dẫn trong các trước tác khác, nên những nguyên văn trọng yếu có thể biết được. Về điều này có thể biết qua luận văn của Matsuda: 松田和信 1990「ネパール古層写本の新比定」IBK 29-1. Tác giả này năm 2001 cũng công bố phần thủ bản đoạn rời của phẩm địa ba-la-mật-đa.
Hiện tồn hán dịch có 5 bản.
(1) 深密解脱經 (No. 0675 Nguyên Nguỵ菩提流支譯 ) in Vol. 16.
(2) 解深密經 (No. 0676 玄奘譯 ) in Vol. 16.
(3) 佛説解節經 (No. 0677 眞諦譯 ) in Vol. 16.
(4) 相續解脱地波羅蜜了義經 (No. 0678 求那跋陀羅譯 ) in Vol. 16.
(5) 相續解脱如來所作隨順處了義經 (No. 0679 求那跋陀羅譯 ) in Vol. 16.
Tibet dịch:
P no. 774.
trong 5 Hán dịch chỉ có ha bản đầu là hoàn chỉnh, ba bản sau là một vài bộ phận của kinh. Bản Tibet có 10 chương, nếu dựa vào bản của Bồ-đề-lưu-chi thì chương 1 và 2 của Bồ-đề-lưu-chi là chương 1 của bản Tibet. về tên chương, bản tibet cũng hợp với bản của Bồ-đề-lưu-chi nhất trong các bản Hán dịch. dưới đây là bản đối chiếu nội dung của 5 bản hán dịch.
|
求那跋陀羅(394–468)相続解脱経 |
菩提流支(?-527)深密解脱經 T.675 |
真諦(499–569)佛説解節經T.677 |
玄奘(602−664) 解深密經T.676 |
|
○ |
序品1 |
不可言無二品1 |
序品1 |
|
○ |
聖者善問菩薩問品2 |
勝義諦相品2 |
|
|
○ |
聖者曇無竭菩薩問品3 |
過覺觀境品2 |
|
|
○ |
聖者善清淨慧菩薩問品4 |
過一異品3 |
|
|
○ |
慧命須菩提問品5 |
一味品4 |
|
|
○ |
聖者廣慧菩薩問品6 |
○ |
心意識相品3 |
|
○ |
聖者功徳林菩薩問品7 |
○ |
一切法相品4 |
|
○ |
聖者成就第一義菩薩問品8 |
○ |
無自性相品5 |
|
○ |
聖者彌勒菩薩問品9 |
○ |
分別瑜伽品6 |
|
相續解脱地波羅蜜了義經T.678 |
聖者觀世自在菩薩問品10 |
phần kết kinh |
地波羅蜜多品7 |
|
相續解脱如來所作隨順處了義經T.679 |
聖者文殊師利法王子菩薩問品11 |
○ |
如來成所作事品8 |
*ghi chú: dấu ○ trong biểu là chỉ cho phần không có bản tương đương.
Thư mục tham khảo:
大乗経典解説事典.
講座大乗仏教6如来蔵思想、春秋社、1984。
『新国訳大蔵経8如来蔵・唯識部1: 央掘魔羅経・勝鬘経・如来蔵経・不増不減経』大蔵出版。
…
[1] Cf. Shimoda Masahiro và Suzuki takayasu trong Đại Thừa Kinh Điển Giải Thuyết Sự Điển (大乗経典解説事典).
[2] Daśabhūmika-sūtra, Kondo, p.98: tasyaivaṃ bhavati cittamātram idaṃ yad idaṃ traidhātukaṃ.
[3] Bản dịch các kinh điển Bất Tăng Bất Giảm Kinh, Thắng man Kinh, Trí Quang Minh Trang Nghiêm Kinh cũng được gom trong sách này.
[4] Trong dịch bản của Đàm vô sấm, tên vị bồ tát này là Tín Tướng bồ tát.
[5] Nanjō, p. 68.1; T670, 487c. (chương II)
[6] Nanjō, p. 77.13-p.79.12. (chương II)
[7] Nanjō, p. 220.1 – p. 239.10 (chương VI)
[8] Nanjō, p.43.14-p.49.5; T670.484a-485a.
[9] Nanjō, p.37.6-p.39.8.